Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Tự thú của một người viết phê bình

 

THƠ NHƯ MỘT THỰC HÀNH ĐỌC

(hay tự thú của một người viết phê bình)





                                                                                               Lê Hồ Quang

Thơ là gì? Tính thơ nằm ở đâu? Làm sao để tôi biết rằng đây là một bài thơ hay? Làm sao để chắc chắn rằng tôi đã hiểu đúng nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ này?...

Những câu hỏi đó thường trở đi trở lại với tôi, khi đứng trước một bài thơ. Hoàn toàn không dễ trả lời những câu hỏi như vậy.

Lí do, là bởi vì thơ không phải một ý niệm cố định, sơ giản, dễ dàng đóng cứng trong một vài gạch đầu dòng định nghĩa. Mặc dù được viết theo những quy ước thể loại, vốn mang tính công thức (ví dụ, thơ lục bát hoặc thơ thất ngôn bát cú Đường luật…), những bài thơ hay nhất vẫn thường tồn tại trong một tình thế mâu thuẫn: một mặt, chúng vừa tuân thủ hình thức thể loại, mặt khác, chúng ngấm ngầm (hoặc công khai) “chống lại” sự đồng nhất đó để khẳng định sự độc sáng. Để phân biệt với các thể loại khác, người ta thường nhấn mạnh những đặc trưng của thơ như tính trữ tình, tính hàm súc, tính biểu cảm, nhạc tính v.v., nhưng khi xem xét sáng tác thơ thuộc những những loại hình khác nhau, ta dễ dàng thấy “tính thơ” của chúng rất khác biệt. Một lí do khác, không kém phần quan trọng, liên quan đến mối quan hệ giữa thơ và chủ thể tiếp nhận. Các lí thuyết nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra một điều hiển nhiên là với những chủ thể đọc khác nhau thì thơ (tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung) có thể được diễn giải và đánh giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập gay gắt. Như vậy, thơ không phải là cái gì đó đã được định hình, hoàn tất. Nó là cái đang diễn ra, đang được khám phá, hình thành trong tiến trình đọc.

  Một khi chấp nhận rằng thơ không phải là một ý niệm khép kín, nhất thành bất biến, rằng thơ được khám phá trong tiến trình và hành vi đọc, rõ ràng quan niệm về thơ cũng như cách đọc thơ cần thay đổi. Câu hỏi đặt ra với tôi giờ đây, sẽ là: Đọc thơ như thế nào?

Ở đây, tôi tạm dùng thuật ngữ “thực hành đọc” để gọi một phương thức đọc đã hình thành qua khá nhiều năm đọc và viết của bản thân. Đó không phải là việc áp một mô hình lí thuyết có sẵn lên tác phẩm, cũng không phải việc ghi chép những ấn tượng chủ quan, tức thời. Thực hành đọc là quá trình người đọc quan sát, phân tích, diễn giải và đối thoại với văn bản trên cơ sở những bằng chứng ngôn ngữ cụ thể, từ đó hình thành tri thức và kinh nghiệm thẩm mĩ, đồng thời đào luyện năng lực đọc của chính mình. Đề cao sự tiếp xúc trực tiếp với văn bản, thực hành đọc cũng nhấn mạnh tính quá trình và trải nghiệm cá nhân, xem sự kết hợp giữa đọc và viết, viết và điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung (có thể thường xuyên, liên tục) là hoạt động thật sự cần thiết trong tư duy, nhận thức lẫn thao tác đọc.

Với tôi, đọc là một hoạt động rèn luyện tinh thần, nó được thực hiện trong ý thức thường trực về tính chất phức tạp của văn bản, của mối quan hệ giữa văn bản và bối cảnh sáng tác, tiếp nhận và là cố gắng để từng bước vượt qua giới hạn sự đọc, sự hiểu của chính mình.

Thơ Việt Nam hiện đại quả thực là một hiện tượng phức tạp, bộn bề. Bởi vậy, tôi chỉ có thể “khoanh vùng” thực hành đọc một số hiện tượng tác giả, tác phẩm nhất định. Trong số đó, có những tác giả, tác phẩm được xem là đỉnh cao, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình bàn đến nhưng cũng có những tác giả mới xuất hiện, ít người biết đến hơn. Nhìn chung, tôi thường chú ý đến các hiện tượng thơ trong tư cách cấu trúc thẩm mĩ với các phương diện tư tưởng, thi pháp tương ứng. Đồng thời, tôi cũng bị thu hút bởi những văn bản/ hiện tượng có thể đánh thức, khơi gợi những quan niệm, suy nghĩ khác biệt, rộng rãi hơn về đời sống, hoạt động sáng tạo hoặc phương pháp đọc. Bởi vậy, có những tác giả, tác phẩm, trong cách đánh giá của nhiều người là “xoàng” hay “không có gì để viết”, tôi vẫn tiếp cận với nhiều hứng khởi. Bởi tôi nghĩ, vấn đề không chỉ nằm ở chỗ hiện tượng ấy có giá trị hay không, hoặc đóng góp của nó đến đâu, mà còn ở chỗ hiện tượng ấy đã đặt/ gợi ra những vấn đề gì đối với văn học, đời sống và bản thân độc giả. Có khi qua một hiện tượng/ tác phẩm dở (hoặc bị xem là) kém, dở mà ta vẫn có thể rút ra được những vấn đề lí luận và thực tiễn cần thiết, ý nghĩa (đặc biệt là với cá nhân người đọc) thì việc đọc/ viết ấy hoàn toàn không vô nghĩa. Như vậy, viết phê bình đâu chỉ là viết về những hiện tượng đỉnh cao và đâu chỉ tập trung vào việc khen hoặc chê? Ngay cả những hiện tượng được dán nhãn/ gọi là “thơ dở”, từ một góc độ nào đó, cũng thể hiện những trạng huống và tình thế lịch sử, văn hóa - thẩm mĩ nhất định, và hoàn toàn có thể khảo sát về chúng như những đối tượng khoa học nghiêm túc.

Các bài viết của tôi thường không hiện diện như là kết quả cuối cùng, đã hoàn tất, mà như là những sản phẩm đánh dấu một chặng đọc của cá nhân tôi. Có những bài tương đối dài, nội dung triển khai khá kĩ lưỡng. Có những bài mới chủ yếu dừng lại ở khung cấu tứ, ý tưởng, những ghi chép nhanh. Trên thực tế, mỗi bài viết thường có nhiều phiên bản, được sửa đi sửa lại vô số lần, nhưng dường như vẫn còn vô số điều dang dở, chưa được giải quyết thỏa đáng, vẫn cần phải được nghĩ tiếp. Thơ, như tôi tìm thấy trong thực hành đọc, không chỉ là những ý niệm hoặc những đặc điểm về cấu trúc, thi pháp đơn thuần, mà là nhận thức về ý nghĩa, giá trị của thi ca và thế giới, của đời sống cá nhân, được bồi đắp sâu sắc thêm, thúc đẩy thêm sự nghĩ, sự hiểu trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản.

Đọc và viết từng được xem là một cách để con người tự định nghĩa về bản thân mình. Tuy nhiên, vào thời điểm tôi gõ xuống bàn phím những dòng này, sự phát triển vượt bậc của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI-Artificial Intelligence) đang đặt nhân loại trước một cuộc khủng hoảng tri thức to lớn. Đã đến lúc không phải con người, mà (yếu tố vốn bị xem là) công cụ mới là yếu tố định nghĩa/ tái định nghĩa bản chất con người cũng như các hoạt động trí tuệ, bao gồm việc đọc và viết của họ. Nguy cơ thế giới bị san phẳng bởi mô hình ngôn ngữ của máy tính, của các nền tảng công nghệ chuyên sâu càng ngày càng rõ nét. Sẽ đến lúc người ta khó lòng phân biệt nổi, sự thực là Ai - hay AI đang tương tác, đối thoại với mình trên/ bằng văn bản. Tôi không đủ lạc quan để nghĩ rằng, xúc cảm hay những khả năng sáng tạo của con người có thể đủ sức chống lại xu hướng AI hóa trong tương lai gần. Thực hành đọc, với tôi, là một nỗ lực không ít cảm giác vô vọng, một cách để cố gắng hoàn tất công việc đã tạo nên phần đời sống lặng lẽ của mình. Nói như Tô Thùy Yên, “Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn/ Trí ta không đủ lực đo lường” (Hề, ta trở lại gian nhà cỏ). Hoặc như Nguyễn Huy Tưởng, trong vở bi kịch nổi tiếng - Vũ Như Tô: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

                                                                                Vinh, 7/6/2026

                                                                                        L.H.Q

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Về một Người Thầy

                                         LỰA CHỌN CỦA MỘT NGÒI BÚT

(Về công trình Từ nhân cách đến văn cách, phê bình, tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, 2021)

                                                                                              Lê Hồ Quang


Tưởng nhớ Thầy Lê Thái Phong

            (Tôi viết bài này vào năm 2022, khi Thầy Lê Thái Phong ra mắt công trình 
Từ nhân cách đến văn cách. Xin đưa lại như một nén tâm hương tưởng nhớ Thầy).

-----------------------------------------------

         Quan tâm đến văn chương, với nhà giáo, nhà nghiên cứu Lê Thái Phong, trước hết là quan tâm đến con người. Nhưng từ những câu chuyện cá nhân tưởng chừng “rất riêng và rất nhỏ”, ông luôn đọc ra câu chuyện của cộng đồng, lịch sử và nhân loại. Đọc văn, dạy văn, nghiền ngẫm về văn chương, suy cho cùng, chính là để hiểu sâu sắc hơn về con người, để nuôi dưỡng niềm tin bền bỉ với văn chương và khả năng đồng cảm, chia sẻ, ngay cả khi bản thân phải chịu đựng nhiều nỗi đau đớn, mất mát. Dường như đấy là sợi chỉ xanh nối liền cách sống, cách hành xử hàng ngày đến phong cách giảng dạy và nghiên cứu văn chương của ông. 

Đi từ Người đến Văn, nhà nghiên cứu Lê Thái Phong thường chú ý khai thác những phương diện tư tưởng mỹ học, triết lí nhân sinh, xã hội, nhãn quan thế giới, quan niệm nghệ thuật… của nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Không bỏ qua những điểm độc đáo trong phương diện hình thức, ngôn từ của tác phẩm, nhưng ông quan tâm hơn đến nhân cách nhà văn thể hiện, hóa thân thành văn cách tác giả trong tác phẩm. Nguyễn Du và Truyện Kiều là mối quan tâm lớn của ông, phần viết về tác gia và tác phẩm kinh điển này hơn 1/3 cuốn sách. Đây cũng là phần thể hiện rõ nhất, trọn vẹn nhất tình yêu và sự am hiểu của ông đối với văn chương, thông qua một hiện tượng đỉnh cao của văn học dân tộc. Ở đây, tư cách chuyên gia về văn học cổ điển của ông bộc lộ khá rõ. Với mảng văn học hiện đại, dù đặt tiêu đề “Về các nhà văn xứ Nghệ”, nhưng những tác giả xứ Nghệ mà ông quan tâm thực ra cũng là những đại diện tiêu biểu cho văn học Việt Nam hiện đại: Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thế Quang, Trương Đăng Dung…

Là một nhà giáo nặng lòng với sự nghiệp giáo dục, ở phần 3 cuốn sách, ông dành nói về vấn đề giáo dục, về nghề dạy học, cụ thể là dạy môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Bên cạnh việc đề xuất một số phương án nhằm đổi mới phương pháp dạy học văn theo hướng phát triển mĩ cảm người học (là điều vẫn mang tính thời sự trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay), chia sẻ những tâm nguyện nghề nghiệp, ông còn bày tỏ mối ưu tư về những mảng tối, bất cập của cơ chế giáo dục hiện hành, điều mà một nhà giáo tâm huyết và tỉnh táo như ông không thể không lên tiếng. Có những bài viết về đồng nghiệp rất nồng nhiệt, cho thấy một góc khác của con người ông - cởi mở, hồn nhiên, dễ xúc động. Trong sâu xa, ông vẫn là con người say mê cái đẹp và tha thiết tìm thấy điều ấy trong lĩnh vực nghề nghiệp “trồng người”, đặc biệt ở những đồng nghiệp trẻ tuổi.  

Cuốn sách là kết quả nhiều năm suy ngẫm của một ngòi bút tài hoa, khiêm hậu, đã lấy văn chương làm con đường, làm lẽ sống của cuộc đời mình và đã truyền tình yêu ấy cho bao thế hệ học trò qua những giờ giảng và những trang viết đầy nhiệt hứng. Viết, bên cạnh giảng dạy, thực chất với ông là một cách để làm phong phú hơn cuộc đời đã sống, để mở rộng, nối dài thêm sự chia sẻ, kết nối quan niệm, tư tưởng; hoặc đơn giản hơn, để tỏ bày nỗi xúc động bất ngờ dâng tràn trước một vẻ đẹp văn chương mà tâm hồn đam mê không thể kìm giữ…

Đọc những trang viết của nhà nghiên cứu, nhà giáo Lê Thái Phong (mà đến đây, tôi muốn gọi một cách thân thương, giản dị là thầy Phong, như chúng tôi vẫn thường gọi), tôi không khỏi xúc động. Phải, không chỉ là tri thức văn chương, những trang viết của thầy luôn nhắc tôi nhớ đến ngôi trường Phan Bội Châu thuở hoa niên, nhớ đến giấc mơ văn chương đầu đời, nhớ đến khát khao bộc lộ cá tính qua những trang viết bập bẹ. Dẫu được học trực tiếp với thầy rất ít, nhưng với tôi, và có lẽ, với rất nhiều bạn bè của tôi, thầy là một “số phận chứa riêng phần lịch sử”. Sự thật là, với cuộc đời giảng dạy của mình, thầy đã mở rộng mục trường tinh thần của chúng tôi một thuở, gọi dậy trong chúng tôi sự say mê với văn chương và truyền niềm phấn hứng hướng về một cái gì thật đẹp, thật lạ lùng và xa xôi, nhưng đáng mơ ước của đời người, đáng vì nó mà sống, mà khổ đau, hạnh phúc. Những điều đó, quả thực, rộng và dài hơn mọi trang sách. Thầy là một cá tính và nhân cách đẹp đẽ trong kí ức cộng đồng của nhiều thế hệ học trò và dù có cách xa, vẫn không ngừng nâng đỡ, an ủi và làm dịu đi tổn thương của những kẻ trót theo đòi văn chương chúng tôi, theo một cách nào đó. Nên với tôi, Từ nhân cách đến văn cách không chỉ là một cuốn sách, nó khiến tôi nghĩ nhiều hơn về những người thầy, về mái trường, về lựa chọn sống với văn chương của người đi trước. Để mỗi khi thầm lặng nhớ về, tôi mãi mãi biết ơn.    

                                                                                     Vinh, 9/5/2022

                                                                                              L.H.Q

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh

  

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

(lưu lại vài ý nghĩ về trích đoạn trong SGK Kết nối, trước khi văn bản bị thay)

     

                 


                               

                                                                        Lê Hồ Quang

   Thật đáng buồn, lịch sử nhân loại cũng là lịch sử của nhiều cuộc chiến đẫm máu và điều đó còn tiếp diễn đến tận hiện tại. Chiến tranh là đề tài văn học quen thuộc với nhiều tác phẩm lừng lẫy: Iliad, Odyssêy – (Homer, Hy Lạp), Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung, Đông chu liệt quốc – Phùng Mộng Long (Trung Quốc), Chiến tranh và hoà bình – Lev Tolstoy; Sông Đông êm đềm – Sholokhov; Cuộc đời và số phận – Vasily Grossman (Nga), Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ – Svetlana Alexievich, Belarus, Giã từ vũ khí – (Ernest Miller Hemingway, Mỹ), Phía tây không có gì lạ – Erich Maria Remarque (Đức),… và vô số tác phẩm khác. Chiến tranh cũng là đề tài quen thuộc trong điện ảnh: Nghệ sĩ dương cầm của đạo diễn Roman Polanski, Phía Tây không có gì lạ của đạo diễn Edward Berger; hội hoạ: Ngày 3 tháng 5 năm 1808 của Francisco Goya, Guernica của Pablo Picasso,…. Trong nhiều tác phẩm, chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc, sự huỷ diệt nhân tính và để lại những chấn thương kinh hoàng, dai dẳng trong đời sống con người, ngay cả khi nó đã kết thúc. Mặt khác, chiến tranh cũng là môi trường để thử thách và bồi đắp những giá trị tinh thần cao đẹp như lòng yêu nước, tình đồng đội, và ý thức bảo vệ nền hoà bình của quốc gia, dân tộc, nhân loại. 

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Thơ Trần Hạ Vi

                THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO

                      (Về thơ Trần Hạ Vi)

                   

                                            


                                                

                                                                                                        Lê Hồ Quang

Tôi biết gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?

Đây là thông tin căn bản mà tôi có:

Trần Hạ Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc. Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao học và Tiến sĩ (PhD) ngành Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang định cư tại Canada. Phó Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova Scotia.

Tác phẩm đã xuất bản: Lật tung miền kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2020; Phiến Hạ (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].

Trên Facebook (FB) cá nhân [2], thông tin tác giả chia sẻ đem lại cho chúng ta một hình dung tương đối thống nhất về con người và cuộc đời chị: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống gia đình viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ, một cô con gái nhỏ xinh xắn… Những bài viết trên FB và một số Website văn học nghệ thuật trong thời gian gần đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Nguyễn Yến Ngọc: sự mở rộng của mối quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời sống văn hóa, xã hội, chính trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ; tính cách bộc trực, thẳng thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và thảo luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.

Tuy nhiên, trên FB của mình, bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi (đặt theo họ mẹ) chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và tập thứ tư (?) dự kiến là Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử ngoài đời – tác giả, nhà giáo Nguyễn Yến Ngọc, chân dung của tác giả Trần Hạ Vi trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua hành động và quá trình sáng tạo. 

Ý thức tự kiến tạo [3] trong thơ được tôi hiểu như sau:

- Thơ là một cách để tác giả “kiến tạo và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội tâm của chủ thể – đồng thời định hình căn tính tinh thần của mình trong diễn ngôn thẩm mĩ.

-  Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo qua thơ/ bằng thơ và vận động, biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định, bất biến.  

- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.  

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Truyện ngắn Ý Nhi

Không khí, nhịp điệu và suy tưởng: đọc chậm truyện ngắn Ý Nhi

 


Nhà thơ Ý Nhi

                                                                                              Lê Hồ Quang

 Dù có trong tay bản thảo tập Con ngựa trên bãi biển đã khá lâu, phải sau nhiều lần đọc, tôi mới có thể bước vào thế giới truyện ngắn của Ý Nhi. Lí do có lẽ bởi vì rất khó để áp khung lí thuyết và các khái niệm công cụ tự sự quen thuộc để tiếp cận và lí giải cấu trúc nghệ thuật ấy. Ở đây, không phải đề tài, sự kiện hay nhân vật mà không khí, nhịp điệu và suy tưởng mới thực sự là linh hồn của truyện kể. Chúng kết nối và tác động chặt chẽ với nhau, tạo nên bầu không khí thẩm mĩ rất riêng nhưng không dễ định hình và khái quát hóa. Bởi vậy, ít nhất là với tôi, truyện ngắn Ý Nhi đòi hỏi một cách đọc tương thích: đi sâu vào cấu trúc chỉnh thể của văn bản, trong tiến trình trải nghiệm cụ thể ngôn từ, hình tượng.

Không khí trong truyện ngắn của Ý Nhi được tạo nên bởi nhiều yếu tố: không gian, thời gian, cảnh sắc, ngôn ngữ, sắc thái tâm lí… Không gian hoặc nhỏ hẹp (một căn phòng lợp tôn, một khu chung cư cũ, một con hẻm nhỏ, một quán cà phê…) hoặc rộng rãi nhưng mơ hồ, phiếm chỉ (một bãi biển, một sân ga, một hòn đảo…). Tính chất mơ hồ này càng nổi rõ hơn khi tên địa danh được đặt một cách bất định như phố Y, hẻm X, quán cà phê M… Khoảng cách không gian cũng có tính chủ quan hóa, có thể “co giãn, tùy theo độ đậm nhạt của các mối quan hệ, tùy theo tình cảm của họ với nhau” (Chiều). Đấy là không gian của hồi ức, của suy ngẫm, xúc cảm, hiển nhiên không thể đo lường bằng thước đo vật lí.

Nhân vật trong truyện thường được gọi bằng các từ xưng hô phi cá thể hóa: ông, anh. Tên riêng có khi chỉ là những chữ viết tắt: T., M., K… Tôi nghĩ điều này là có chủ ý. Nó nhằm mục đích xóa mờ căn cước tiểu sử - xã hội để tập trung vào căn cước tâm hồn của con người. Trong các câu chuyện, nhân vật dường như “chỉ dành tất cả thời gian cho việc đi đi lại lại” (Dấu vết) giữa các không gian thực và ảo, quá khứ và hiện tại, hiện thực và mộng tưởng. Ví dụ, trong truyện Đường qua công viên, hành trình nhân vật chính đi qua mấy dãy phố để đến với quán cà phê quen thuộc, vốn chỉ vài bước chân, cũng là hành trình trải nghiệm lại những hồi ức, kỉ niệm của thời thanh xuân sôi nổi với cà phê, khói thuốc, sách vở của mấy chục năm về trước. Còn trong truyện Người đứng bên kia đường, chỉ trong một căn phòng hẹp, với cửa sổ mở nhìn sang bên kia đường, nhân vật đã có thể sống lại trong vô số những chiều kích không gian khác nhau gắn với hoài niệm, tình yêu, sự li tán, mất mát… Không gian thực tại và không gian nội tâm luôn đan cài, chuyển dịch. Có thể hình dung đấy như những chuyến phiêu du tinh thần mà sự thay đổi của không gian cho phép con người có cơ hội quan sát, nhận thức, trải nghiệm lại cuộc đời của chính mình, trong bối cảnh, góc nhìn tham chiếu khác.

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2025

Trường ca của Nguyễn Quang Thiều

                                                CẤU TRÚC MỘT ÁC MỘNG

(Về trường ca Lò Mổ của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2024)

                                                                                                                                                                                                  Chúng ta phải đi qua đêm tối này

                                                                      (Chương 18 - Hãy đứng dậy)                            


Tranh của Nguyễn Quang Thiều

                                                                                
              Lê Hồ Quang
            
            1. Lời mở

Trong lời mở đầu Lò Mổ, Nguyễn Quang Thiều khẳng định: “Viết chỉ là một hành động mang tính cá nhân. Ngay cả khi những trang viết được công khai với bất cứ hình thức nào cũng chỉ là hành động của cá nhân. Tôi “cá nhân hóa” toàn bộ Lò Mổ”.

Nhưng viết có thực chỉ là một hành động cá nhân? Tôi nghĩ, nếu xét về bản chất sáng tạo thì đúng vậy - viết là một hành động cá nhân, bởi trong quá trình viết, tác giả luôn thể hiện nhãn quan, bút pháp và quan niệm riêng về thế giới. Tuy nhiên, khi tác giả cất tiếng bằng ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ nghệ thuật, họ đã đồng thời tham gia vào một quy ước giao tiếp cộng đồng đặc thù. Một khi tác phẩm bước vào đời sống văn học, nó phải tuân thủ các quy tắc giao tiếp xã hội và chấp nhận những phản ứng trái chiều từ cộng đồng tiếp nhận, diễn giải. Khi đó, từ một hành động cá nhân, viết đã trở thành một hành động xã hội.

Việc Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh tính cá nhân của hành động viết, tính chất “ác mộng” của Lò Mổ và khẳng định “tôi không có hy vọng tìm được cơ hội để chia sẻ câu chuyện này với ai khác ngoài tôi” không chỉ là một cách nói mang tính trữ tình (dù “nói” bằng các ẩn dụ thống thiết là phong cách quen thuộc của nhà thơ này). Có lẽ, sự tiếp nhận trái chiều từ phía độc giả đã được ông lường trước, trước khi trình ra “cơn ác mộng” của mình. Trên thực tế, khi chính thức ra mắt vào cuối năm 2024, Lò Mổ đã gây ra những tiếp nhận trái ngược khá gay gắt. Những tranh cãi xung quanh tập trường ca này có lúc bị đẩy lên đỉnh điểm, buộc tác giả phải lên tiếng nhờ pháp luật can thiệp[1]. Trước đó, tập Sự mất ngủ của lửa (xuất bản năm 1992, nhận Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993) của ông cũng gây ra những tranh luận gay gắt tương tự trong giới chuyên môn và độc giả nói chung[2]... Có thể nói, đấy là cách để tác giả vạch ranh giới và xác lập một giao ước đọc/ tiếp nhận với độc giả. Điều này vừa cho thấy quan niệm cá nhân của ông về hành động viết, hé lộ cấu trúc hình tượng đặc biệt của tác phẩm, đồng thời thể hiện sự trải nghiệm và hiểu biết về một cộng đồng diễn giải phức tạp mà ở đó sự viết và sự đọc không phải bao giờ cũng tương thích. Tôi nghĩ hành vi tự giới hạn này không phải xuất phát từ sự kiêu hãnh về phẩm chất cá nhân của cái tôi nghệ sĩ (Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hát chơi - Xuân Diệu) hay ý thức về quyền uy tuyệt đối của chủ thể trong sáng tạo (Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy - Thanh Tâm Tuyền), mà là một sự tự phòng vệ thì đúng hơn (thực tế những gì xảy ra sau khi cuốn sách ra đời cũng chứng thực rằng sự phòng vệ này là đúng). Mặt khác, ngược lại với mong muốn của tác giả (“tôi không muốn ý chí can thiệp vào cơn mộng mị của tôi”), nó cho thấy một cơ chế kiểm soát/ tự kiểm soát mang tính lí trí rất rõ. Dĩ nhiên, một khi còn phải nói về viết như một nỗ lực “vượt thoát khỏi tự do” thì như một nghịch lí, ta thấy rõ hơn lúc nào hết, cả sự thiếu tự do lẫn sự kiềm tỏa đáng ngại của những thiết chế văn hóa, chính trị, xã hội đang công khai hoặc ngầm ẩn chi phối đời sống sáng tạo.

Tôi muốn xem Lời mở đầu này như một bộ phận hữu cơ của trường ca Lò Mổ, đường viền ngoài nhưng sắc nét, giàu tính hiện thực của “ác mộng” về thế giới “mà tôi đang sống” (Nguyễn Quang Thiều). Nó là một đề dẫn, một gợi ý, một khuyến nghị đáng quan tâm trước khi độc giả bước vào thế giới của Lò Mổ.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

Phê bình - tiểu luận của Mai Văn Phấn (2)

                                       TRONG ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC TIN

(Về cuốn tiểu luận - phê bình văn học Trong Ơn gọi

của Vincent Mai Văn Phấn, Nxb Đồng Nai, 2025)

                                                                     



                    Lê Hồ Quang

 Khi chọn văn học Công giáo làm đối tượng nghiên cứu, phê bình, Mai Văn Phấn đã bộc lộ một ý thức và tâm thế viết đặc biệt. Với ông, viết mang ý nghĩa “sự mầu nhiệm của Ơn Gọi”[1], thấm đẫm ánh sáng của Đức tin hướng về những giá trị thiêng liêng của Thiên Chúa và Cõi Sáng tạo. Viết cũng là sự thôi thúc mãnh liệt tự bên trong, nhằm đáp lời tiếng gọi mầu nhiệm của Thiên Chúa, tiếng gọi của Cõi Thiêng cuộc đời, nghệ thuật. Sự kết hợp nhiều tư cách trong ngòi bút Mai Văn Phấn - một tác giả phê bình, một nghệ sĩ sáng tạo, một Kitô hữu nhiệt thành - vừa tự nhiên, tất yếu, lại vừa mang tính chủ đích, giúp ông trở nên đặc biệt bén nhạy trong việc nắm bắt, khai mở những điều huyền nhiệm, sâu xa trong tác phẩm, điều mà một độc giả bình thường như tôi khó có thể đọc ra.

 Trong Ơn Gọi, ngoài phần Giới thiệu (của Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản) và lời bạt (của Linh mục Giuse Cao Gia An, S.J.) được cấu trúc thành hai phần, gồm phần 1. Hạt Giống Tin Mừng; phần 2: Ánh Sáng Đấng - Tình - Yêu. Phần 1 có tính tổng quan, gồm 4 tiểu luận, 3 bài đầu tập trung vào các vấn đề nổi bật trong văn học Công giáo Việt Nam (hành trình cứu chuộc, cảm thức đức tin, ngôn ngữ cầu nguyện…); tiểu luận thứ tư nói về hành trình sáng tạo của chính tác giả, vốn là một tín hữu Công giáo, đồng thời cũng là một tác giả có một quá trình sáng tạo lâu dài. Tiểu luận thứ tư vừa có tính chia sẻ, đồng thời là sự kết nối, cộng thông tinh thần của cá nhân Mai Văn Phấn với cộng đoàn Công giáo. Phần 2 gồm 20 tiểu luận, mở đầu bằng tiểu luận bàn về cuốn tự truyện Hy vọng của Đức Giáo hoàng Phanxicô và tiếp đó là các tiểu luận bàn về các hiện tượng văn học Công giáo Việt Nam hiện đại tiêu biểu, bao gồm  nhiều tác giả thơ, truyện, tùy bút, dịch thuật. Sự tập trung chủ đề tạo nên tính chất nhất quán, liền mạch, thể hiện khát vọng xây dựng, cống hiến cho cộng đoàn rất rõ.

Theo tôi hiểu, “Hạt giống Tin Mừng” và “Ánh sáng Đấng - Tình - Yêu” là những mô típ thiêng liêng, thường được sử dụng như biểu tượng nghệ thuật để nói về mầm mống tôn giáo, niềm khát khao thiêng liêng và ánh sáng cứu độ được gieo vào đời sống, văn hoá và thơ ca. Hành trình cứu chuộc là nền tảng để hình thành niềm tin và đời sống cầu nguyện của tín hữu. Đức tin là con đường để con người đón nhận ơn cứu chuộc. Cầu nguyện là cách thức để con người liên hệ với Thiên Chúa và đối thoại với Ngài. Như vậy, Cứu chuộc - Đức tin - Cầu nguyện là ba yếu tố cốt lõi, gắn bó hữu cơ trong Ki tô giáo, là “tam vị nhất thể”, tạo nên cấu trúc nhỏ nằm trong cấu trúc lớn - Hạt Giống Tin Mừng. Nội dung tập phê bình Trong Ơn Gọi, về căn bản, được xây dựng trên cấu trúc hệ thống biểu tượng này.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

Nửa thế kỉ văn học Việt Nam

                                NỬA THẾ KỈ VĂN HỌC VIỆT NAM 

 MỘT PHÁC THẢO MỞ

 Về công trình nghiên cứu, phê bình của GS Phong Lê: Phác thảo của phác thảo, nửa thế kỉ văn học Việt Nam trong hoà bình – đổi mới và hội nhập (1975 – 2025), xuất bản năm 2024, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.


                             

                     

   Lê Hồ Quang

Chỉ cần nhìn qua danh mục các công trình nghiên cứu (bao gồm hơn 30 tác phẩm in riêng và chủ biên), có thể thấy gần như cả cuộc đời nghiên cứu của GS Phong Lê gắn liền với văn học Việt Nam hiện đại. Các công trình nghiên cứu, phê bình của ông tập trung vào hai hướng chính: a) khảo sát các khuynh hướng vận động, các vấn đề, hiện tượng văn học nhằm nhận diện và khái quát các quy luật, đặc trưng của văn học; b) nghiên cứu các tác giả văn học nổi bật, gắn liền với từng thời kì, giai đoạn văn học, qua các tác giả tiêu biểu để xác định diện mạo và đóng góp của các giai đoạn, thời kì văn học. Bám sát tiến trình và hiện tượng văn học, đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng với hoàn cảnh chính trị, văn hoá – xã hội phát sinh để cắt nghĩa và lí giải, các tác phẩm nghiên cứu, phê bình của ông thường đem lại cái nhìn mang tính toàn cảnh, bao quát và hệ thống về đối tượng nghiên cứu. Điều này cũng thể hiện rõ trong công trình mới nhất của ông bàn về văn học Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay.   

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2025

Phác thảo tư duy thơ Việt Nam hiện đại

           PHÁC THẢO TƯ DUY THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

            (Qua sáng tác của một số tác giả thuộc thế hệ Đổi mới)



 
 

                                      Lê Hồ Quang

         Nói tới tư duy thơ là nói tới một loại hình tư duy nghệ thuật mang tính đặc thù[1]. Nó chi phối hoạt động sáng tạo của nhà thơ và được hiện thực hóa, cụ thể hóa thông qua hệ thống quan niệm, tư tưởng và thi pháp thể loại. Tư duy thơ của tác giả chịu sự chế ước của nhiều yếu tố: đặc điểm tâm sinh lý, cá tính sáng tạo, kinh nghiệm và trình độ thẩm mĩ của chủ thể, môi trường văn hóa - xã hội… Nó thể hiện qua những phát ngôn tư tưởng trực tiếp hoặc qua những bài viết phê bình, trao đổi, tranh luận của tác giả, song đặc biệt tập trung thể hiện trên văn bản tác phẩm, trong thế giới nghệ thuật được tạo nên bởi ngôn ngữ thi ca tương ứng. Đổi mới thơ, xét từ bản chất của nó, chính là đổi mới tư duy. Chỉ đổi mới hình thức hay nội dung thơ chưa phải là đổi mới tư duy. Đổi mới tư tưởng, quan niệm về thơ cũng mới chỉ là một yếu tố (dù rất quan trọng) của đổi mới tư duy. Vậy thế nào mới thực sự đổi mới tư duy? Ấy là khi ở tác giả hình thành một mô hình nhận thức – sáng tạo mới, khác (thậm chí đối lập) với trước và nhờ đó tạo nên sự thay đổi mang tính gốc rễ trong thế giới nghệ thuật tương ứng. Có thể khẳng định, đổi mới tư duy thơ chính là nền tảng của mọi sự cách tân, đổi mới thơ. Nghiên cứu tư duy thơ là cách để hiểu/ lý giải triệt để hơn cả về “cơ chế” hoạt động sáng tạo của chủ thể, nhằm cắt nghĩa sâu hơn về những đặc thù nghệ thuật trong tác phẩm (dĩ nhiên cũng cần tính đến yếu tố vô thức trong sáng tạo của nghệ sỹ). Nó đưa lại nhận thức về tác phẩm như một cấu trúc chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ. Cũng có thể xem đấy như  một điểm tựa phương pháp luận giúp ta nhận ra nét đặc thù khu biệt các loại hình nhận thức thẩm mĩ, từ đó, có được sự đánh giá khách quan, khoa học cần thiết về các hiện tượng thơ, nhất là những hiện tượng mới, phức tạp. 

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2025

Tiểu thuyết của Nguyễn Đức Tùng

                                                          BÍ MẬT CỦA HẢI TRÌNH

(Về tiểu thuyết Thuyền – Nguyễn Đức Tùng, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2025)

                         


                                           

Lê Hồ Quang

Thuyền có nhịp điệu ngôn từ khá đặc biệt: chậm rãi và bình thản. Nhịp điệu ấy hé lộ những câu chuyện khác, ẩn sau câu chuyện đang kể, một dòng chảy rộng lớn, không ngừng luân chuyển, đẩy con thuyền sự kiện trôi dạt không cùng trong hải lưu mênh mang của hồi ức, suy tưởng, chiêm nghiệm về lịch sử dân tộc, nhân loại và đời sống cá nhân, về những giá trị như sự thật, tự do, tình yêu, nỗi đau, sự cứu rỗi… Phải đọc chậm, vì dẫu có muốn, không thể cản được cái mạch/ nhịp đã được hình thành ngay từ lúc câu đầu tiên xuất hiện, nghĩa là khi con thuyền của câu chuyện xuất bến, bắt đầu hải trình, và nhịp điệu ấy được duy trì cho đến tận dòng kết thúc.

Cuốn tiểu thuyết được chia làm nhiều phần nhỏ, như những đoản văn, và đặt tên theo nội dung tương ứng (Thầy bói, Bến Ninh Kiều, Cầu khỉ, Sông Hậu, Cửa biển, Hải phận quốc tế, Vịnh Thái Lan, Khoảnh khắc, Phép lạ, Ngọn lửa trên biển,  Thủy táng, Vàng xưa đầy dấu chân,… Trại biên giới, Tuyết, Một người di dân, Gọi hồn). Câu chuyện kể về một chuyến vượt biên bằng đường biển của một nhóm người Việt vào khoảng những năm 80 của thế kỉ XX từ điểm nhìn của nhân vật tôi, người kể chuyện. Mở đầu là sự kiện đôi trai gái đi xem bói để biết tương lai, số phận của mình trước chuyến hải trình mịt mù. Kết thúc là sự kiện người con trai đi gọi hồn để gặp người yêu giờ đã thành người cõi khác. Xen giữa đó là vô số mảnh sự kiện kinh hoàng của chuyến đi được hồi cố, đan xen, đồng hiện. Kí ức và hiện tại, trải nghiệm và suy tưởng, đau đớn và xót thương…, tất cả đan cài vào nhau, tạo thành một hiện thực nội tâm đặc biệt. 

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2025

Thơ Linh Văn

                               NHỊP THỜI GIAN CỦA LINH VĂN

 (Về tập thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan [1] của Linh Văn, Nxb Đà Nẵng, 2025)

    riêng tôi, tập thơ này để tụng ca thời gian. thứ thời gian của riêng tôi, làm nên chính tôi bây giờ và mai sau - Linh Văn

                                                                              Lê Hồ Quang    



                  

Chọn thời gian làm đề tài, và hơn thế, biến nó thành chủ đề xuyên suốt tập thơ, hẳn Linh Văn biết mình đang đối mặt với một hiểm địa - sự lặp lại.

Phải, còn gì quen thuộc hơn hình ảnh mái tóc "tiêu như thanh ty, mộ thành tuyết" trong thơ Lý Bạch, con quạ trên cành khô trong thơ Basho, hay những con sóng thời gian xô nhau tìm cái chết trong thơ Shakespeare? Còn gì quen thuộc hơn cảm giác "Cái bay không đời cái trôi/ Từ tôi phút ấy sang tôi phút này" trong thơ Xuân Diệu? Và nữa, ý tưởng con người kiến tạo mình trong/ bằng thời gian của Walt Whitman: "Quá khứ và hiện tại đã héo tàn - tôi đã đổ đầy và rót cạn/ Và bây giờ tôi sắp đổ đầy cái phần tôi kế tiếp của tương lai" (Bài ca chính tôi, Hoàng Hưng dịch)… Thời gian, với quy luật chảy trôi của nó, với sức mạnh hủy hoại và tái sinh của nó, từ lâu, đã là một “chủ đề vĩnh cửu” của văn học, nghệ thuật, triết học.

Nhưng có vẻ tác giả thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan không nao núng. Bởi lẽ, điều anh ta thực sự quan tâm là thời gian nội tâm, tâm lí (Henri Bergson gọi là thời gian tồn tục) được kiến tạo bởi kinh nghiệm, thân thể, hồi ức, trực giác… Đấy là thời gian của ý thức, của trải nghiệm sống, đối lập với thời gian vật lí, luôn trôi chảy, không thể chia cắt, nơi quá khứ, hiện tại, tương lai cũng như thực tại và ước mơ, hoài niệm luôn thấm nhuần, hòa quyện. Dòng chảy chủ quan đó biểu thị đời sống tự ngã sâu thẳm, mang tính bản chất, bên trong cá nhân.

thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan, do vậy, không chỉ là một cách diễn đạt có tính ẩn dụ. Nó thể hiện cách tư duy, đồng thời, cách cấu trúc ý niệm thời gian bằng/ qua ngôn ngữ thơ của tác giả. Hình thành từ “một nguyện ước riêng tư và thành thật/ về một khoảng trời đã mất” (vọng âm), thời gian này gắn liền với kinh nghiệm bên trong, với dòng ý thức, với các trạng thái nội tâm sâu kín. Đó là thời gian đã được nội cảm hóa: tất cả chỉ là một nhát cắt dọc chiêm bao/ đổ thời gian xuống mặt phẳng không gian/ còn cách nào khác ngoài việc khẽ chạm từng hình bóng/ để cảm nhận sức nặng kí ức/ bám trên đầu mỗi ngón tay như bụi (từ một tấm ảnh gia đình)… Trong dòng thời gian này, con người hiện diện đồng thời cũng là con người “khiếm diện”, vừa là cái tôi tiểu sử, có những trải nghiệm cụ thể, đầy cảm xúc về tuổi thơ, tình yêu, mất mát, nhưng đồng thời cũng là cái tôi đã sống trải “những nơi tôi chưa từng đến”, “những năm / không có trên một cuốn lịch nào”, và cả “nỗi chết êm như nắng”. Sự “vọng âm” của những “lời tro” tạo nên tính chất phi danh tính của cái tôi, sắc màu mơ hồ hư ảo ngưng đọng trong những cảnh sắc không - thời gian được mô tả và âm thanh, ánh sáng, mùi vị của vĩnh viễn mà chúng mang theo.

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2025

Thơ Đặng Văn Hùng

                                                     ĐIỀU GÌ KHIẾN MẸ TIN

(Về tập Bài ca sau mưa của Đặng Văn Hùng, Nxb Đà Nẵng, 2025)

                                            Lê Hồ Quang



Ấn tượng trước hết của tôi về Bài ca sau mưa là sự nhỏ nhắn, khiêm nhường của nó. Tập thơ chỉ có 49 trang, không kể mục lục, với khổ in 10,5 x18 cm, có thể cầm gọn trong tay. Số lượng bài cũng ít và thường rất ngắn, có khi chỉ vài dòng. Nhưng chúng khơi mở những cảm giác đặc biệt nhẹ nhõm và dịu dàng.

Nếu đời sống học đường trong sáng tác của nhiều tác giả thường gắn với những mối tình học trò và những rung động đầu đời đầy lãng mạn, kiểu “Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn/ Tuổi hai mươi đến có ai ngờ/ Một hôm trận gió tình yêu lại/ Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Học sinh - Huy Cận) hoặc “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường/ Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương/ Tôi thay mực cho vừa màu áo tím” (Tuổi mười ba - Nguyên Sa), “Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ/ Chim non giấu mỏ/ Dưới cội hoa vàng” (Ngày xưa Hoàng Thị - Phạm Thiên Thư)… thì trong Bài ca sau mưa, Đặng Văn Hùng (cũng là một thầy giáo) thường quan tâm hơn đến công việc hàng ngày của một… ông giáo. Hãy thử đọc tên một số bài thơ, chẳng hạn Trước giờ dạy tối, Để chuẩn bị cho một bài giảng, Bài giảng về kể chuyện, Nghe chữ… Quả thực, ít khi công việc sự vụ chốn trường sở (vốn thường được mặc định là khô khan, tẻ nhạt, mệt mỏi), lại hiện lên trong thơ một cách ân cần và trìu mến như vậy.   

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Thơ Phan Đan

 

THƠ PHAN ĐAN 

 khoảng trắng giữa trang Apocalypse

                                                                                        

 Lê Hồ Quang

 




Trong văn bản mở đầu tập Thơ Phan Đan [1] - tản mạn về thơ, Phan Đan viết:

Mỗi ca khúc là một giấc mơ hữu hạn được cắt gọt và đóng khung trong âm vực giọng người và trong những xúc cảm người. Những giấc mơ hữu hạn làm tán loạn đời sống liên tục của chúng ta và làm hoài thai những giấc mơ khác, có lẽ còn hữu hạn hơn.

Nhưng không có những tập hợp hữu hạn ấy, chúng ta biết làm gì trước THỜI GIAN, dòng chảy tuyệt mù tăm tích này?”

Với Phan Đan, âm nhạc, thơ ca hay nghệ thuật nói chung, có lẽ mang cùng một ý nghĩa: những giấc mơ vượt lên sự hữu hạn để tìm đến “những đường biên giới mênh mông của đời sống”; chúng có khả năng “làm lộ diện niềm hạnh phúc mà ta đã bỏ qua, đã quên lãng, đã mất mát hoặc không thể nào bắt gặp trong cõi hiện thực hữu hạn của đời người”. Ý thức về sự “cắt gọt và đóng khung”, về sự “hữu hạn” (thậm chí là “những tập hợp hữu hạn”) của những giấc mơ sáng tạo không làm lu mờ đi ý nghĩa và giá trị thực sự của chúng: đó là một cách để con người đối diện và tìm thấy tâm hồn mình trên “dòng chảy tuyệt mù tăm tích” của thời gian và cõi vô cùng. Nhưng việc nhấn mạnh tính bất toàn và những giới hạn tất yếu của nghệ thuật và thơ ca, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh xã hội công nghệ hiện đại, đồng thời dẫn ông đến với một nhận thức và tâm thế cần thiết: sáng tạo nghệ thuật là một hành động lựa chọn và chấp nhận. Thơ là hành động ưu tư về cuộc đời và chính nó. 

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2024

Truyện Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê

 

  CÂU HỎI VỀ CÁI ÁC

(Về Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê)

                                                                                                       Lê Hồ Quang




Bi kịch nhỏ (in trong tập truyện ngắn cùng tên vào năm 1993 [1]) thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và lối viết của Lê Minh Khuê giai đoạn hậu chiến và Đổi mới. Lần đầu đọc truyện ngắn này, tôi đã viết: Từ góc nhìn của người cháu, một nữ phóng viên, về người bác ruột của mình, vốn là một cán bộ cấp cao trong bộ máy chính quyền nay đã nghỉ hưu, tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề, chẳng hạn sự duy ý chí trong quản lí xã hội, sự trả thù cá nhân tàn độc nấp sau những chiêu bài chính trị, sự trớ trêu của đời sống hay là sự trả thù tàn khốc của số phận,... Trên thực tế, đấy không chỉ là bi kịch của cá nhân mà còn là bi kịch của xã hội và lịch sử. Con người đối mặt với số phận kì thực là đối mặt với tội ác và sự tàn độc của chính mình”[2]. Tuy nhiên, sau nhiều năm, tôi nhận ra Bi kịch nhỏ không chỉ nói về luật nhân quả hay nỗi cảm thương về sự trớ trêu của số phận, dù đây rõ ràng là những yếu tố tác động mạnh đến nhận thức và xúc cảm của độc giả. Hơn thế, Bi kịch nhỏ đã trình bày hiện thực đời sống ấy như một trạng thái hiện sinh có tính phổ quát, ở đó, cái ác, hoặc nói cách khác  sự dữ, bạo lực, nỗi đau khổ  chi phối tất thảy. Xuyên qua hiện thực khắc nghiệt được tái hiện, Bi kịch nhỏ đặt ra những câu hỏi khá trực diện về cái ác và qua đó, thúc đẩy những suy nghĩ “nhiều hơn và khác đi” về nan đề này.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

Phê bình - tiểu luận của Mai Văn Phấn (1)

 

NHỊP ĐIỆU CỦA SỨC BỀN

(Về tập phê bình, tiểu luận Nhịp điệu vẽ lối đi của Mai Văn Phấn,

Nxb Hội Nhà văn, 2024)

                                                                 Lê Hồ Quang



 Trong nhiều tác phẩm và bài viết trao đổi, Mai Văn Phấn thường nhắc đến quan niệm viết (và sáng tạo nghệ thuật nói chung) như một hành động kiến tạo không gian khác –  khác với người khác và khác với chính mình, xem đấy như kim chỉ nam cho quá trình tìm tòi của ông. Đấy là một ý tưởng dễ được chia sẻ (và dễ biến thành các tuyên ngôn to tát) nhưng rất khó để hiện thực hoá, bởi nó buộc người viết phải ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo, biết liên tục đổi mới, hoặc nói cách khác, biết phủ định và tự phủ định. Càng ngày, khi càng đi xa và đạt nhiều thành tựu hơn, Mai Văn Phấn càng thấy rõ áp lực của việc phải khác trong thực hành sáng tạo. Nhưng đồng thời, việc viết trong áp lực (chủ yếu xuất phát từ đòi hỏi của ông với chính bản thân) đã hình thành ở tác giả này một tinh thần và thái độ thực tế mà ta có thể nói đơn giản như sau: muốn viết khác thì phải đọc sâu, đọc rộng. Có lẽ vì vậy, sau nhiều tác phẩm thơ liên tiếp xuất bản trong và ngoài nước, Mai Văn Phấn chọn nhịp bước chậm lại và rẽ sang phê bình với tập Không gian khác (2016) và mới đây nhất, là Nhịp điệu vẽ lối đi (2024).

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

 

VẤN ĐỀ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

                                                                                               



Lê Hồ Quang

1. Thể loại là khái niệm chỉ quy luật loại hình của văn bản (VB), trong đó, mỗi loại nội dung tương ứng với một loại hình thức, tạo nên cấu trúc chỉnh thể của nó. Hình thức thể loại là kết quả của một phương thức chiếm lĩnh đời sống và mối quan hệ giao tiếp, nhận thức mang tính đặc thù giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mĩ. Đến lượt mình, mỗi thể loại văn học lại tạo nên những kênh giao tiếp và nguyên tắc, phương tiện, truyền thống giao tiếp riêng với độc giả – chủ thể tiếp nhận. Thể loại thể hiện các quy luật phản ánh đời sống và tổ chức tác phẩm một cách tương đối bền vững, ổn định, đồng thời, với tư cách một hiện tượng lịch sử, nó cũng vận động và đổi mới. Trong công trình Lí luận văn học, R. Wellek và A. Warren nhấn mạnh: “Các thể loại có được xây dựng một lần và mãi mãi hay không? Rõ ràng là không bởi vì những tác phẩm mới mở rộng những ranh giới thể loại”[1]. M. Bakhtin cũng khẳng định: “Xét về thực chất, thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học. Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những yếu tố cổ sơ bất tử. Thực ra, cái cổ sơ này được bảo lưu ở thể loại chỉ nhờ vào sự đổi mới thường xuyên, có thể nói là nhờ được hiện đại hoá. Thể loại bao giờ cũng vừa là nó, vừa không phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kĩ vừa mới mẻ. Thể loại được tái sinh, được đổi mới qua từng giai đoạn phát triển văn học và qua từng tác phẩm cá biệt của thể loại này”[2]. Tiếp cận VB từ góc độ thể loại, vì vậy, không chỉ giúp lí giải VB một cách khoa học, có căn cứ mà còn giúp giải quyết nhiều vấn đề của lí thuyết và thực tiễn.

2. Trong nhà trường Việt Nam, nguyên tắc dạy học đọc hiểu VB theo đặc trưng thể loại đã được chính thức đề xuất từ Chương trình Ngữ văn (CTNV) 2006[3]. Dù có định hướng rất đúng song việc dạy học đọc hiểu VB ở nhà trường phổ thông theo nguyên tắc này vẫn chưa có đủ điều kiện thực hiện một cách triệt để, bởi hệ thống VB trong chương trình và SGK vẫn được sắp xếp theo tiến trình lịch sử. Đành rằng những VB cùng thể loại thuộc một thời kì văn học nào đó đã được chú ý đặt thành cụm, nhưng điều đó thực sự không có nhiều ý nghĩa, không tạo được dấu ấn về một kiểu tư duy khác đối với việc tổ chức hoạt động đọc hiểu VB cho HS. Đến CTNV 2018, nguyên tắc dạy học đọc hiểu VB theo đặc trưng thể loại vẫn tiếp tục được nhắc đến và lần này chắc sẽ được thực hiện một cách hiệu quả hơn, khi chương trình nêu định hướng phải tích hợp chặt chẽ việc hình thành kiến thức về thể loại, bao gồm văn bản văn học (VBVH), văn bản nghị luận (VBNL), văn bản thông tin (VBTT), với việc triển khai các hoạt động đọc viết, nói và nghe. Trong phần kiểm tra, đánh giá kĩ năng đọc hiểu, CTNV 2018 cũng yêu cầu HS phải biết đánh giá VB về phương thức thể hiện, đặc biệt, qua đọc hiểu, phải xác định được rõ “kiểu VB, thể loại và ngôn ngữ sử dụng”[4].