Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Thơ Đinh Trần Phương

 

KHOẢNH KHẮC THƠ

(Về thơ Đinh Trần Phương)



 

Lê Hồ Quang 

Trong văn học đương đại Việt Nam, nếu những tìm tòi thơ theo hướng cách tân hình thức thường được tiếp nhận với thái độ nghi ngại, thậm chí đánh đồng với sự rối rắm, bí hiểm, lai căng, thì ở chiều ngược lại, những sáng tác thơ theo hướng tối giản lại đứng trước một phản ứng khác: bị xem là đơn giản, dễ dãi, nông cạn. Thậm chí, khi thơ haiku Nhật Bản (một thể thơ tiêu biểu cho hình thức tối giản) được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn[1], bản thân thơ haiku và những sáng tác theo hướng này đã phải chịu không ít ý kiến công kích, giễu cợt, cho rằng, đấy là loại thơ nghèo chữ nghèo nghĩa, đơn thuần viết vài chữ rồi xuống dòng, và ngay một người bình dân nhất cũng có thể làm ra một cách dễ dàng.

Đó là một phản ứng đọc đầy oái oăm nhưng có thực, và khá phổ biến[2]. Xin lưu ý, đây không chỉ là phản ứng về một loại thơ. Có lẽ đây cũng là phản ứng quen thuộc trước một “loại hình thơ” lớn hơn, đấy là thơ đương đại. Hễ cứ cái gì khác, lạ, không quen, lập tức những câu hỏi nghi vấn được cất lên, không phải để chất vấn, suy tư, mà để kết án, buộc tội, rằng đó không phải thơ, đúng hơn, không phải là thơ như người đọc ấy mặc định. Nhưng vậy thì phải chăng trên đời chỉ có duy nhất một loại thơ? Hoặc, khi đã dán nhãn cho một sáng tác là thơ, thì đương nhiên, những sản phẩm khác, hoặc là phải tự gò vào những đặc điểm có tính định mệnh thể loại đó, hoặc không có quyền định danh nó là thơ nữa?

Trở lại với vấn đề đã nêu trong mở đầu, có thực loại thơ ngắn, tối giản trong sáng tác của nhiều tác giả đương đại là dễ viết, dễ đọc? Có thực những tìm tòi theo hướng thơ tối giản chỉ là một hành động chế tác thuần túy kĩ thuật và nông nghĩa? Quả thực, điểm chung giữa các sáng tác ngắn như thơ haikâu của Lê Đạt, thơ haiku của Nhật Chiêu, Đinh Trần Phương, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Văn Hùng, thơ ba câu của Mai Văn Phấn, thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam, Đặng Văn Hùng…, là hết sức kiệm chữ, kiệm lời. Mỗi bài thường chỉ vài ba dòng với một vài hình ảnh, có nhan đề hoặc không. Nhưng không dễ đọc. Lại càng không thể nói chúng ít nghĩa/ ý nghĩa. Vấn đề là, làm sao để có thể “đọc ra” nghĩa/ ý nghĩa trong cấu trúc cực kì tối giản và đồng thời, lại có vẻ hết sức đơn giản ấy?

Tôi muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên qua một trường hợp cụ thể – thơ haiku của Đinh Trần Phương, với hai tập Cánh trăng (2014) và Giấc mơ của bàn tay (2021).

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Cách đọc thơ

                          ĐỌC THƠ NHƯ THẾ NÀO?



                    Lê Hồ Quang

Với tôi, đọc thơ trước hết là một sở thích cá nhân. Trong tư cách độc giả, tôi không tìm kiếm điều gì hơn ngoài việc nhờ thơ chia sẻ, giải tỏa tâm trạng, cảm xúc của mình. Cái hay của thơ, do vậy, được định nghĩa bằng việc nó thiết lập nhanh hay chậm sự đồng cảm, mức độ sâu sắc của ẩn dụ và khả năng khêu gợi cảm giác, cảm xúc nhờ vào những từ “hay”, “đắt”, nói theo cách giáo khoa thư. Nhưng càng ngày, cùng với việc phải tìm hiểu sâu hơn về thơ, tôi càng phải đối mặt nhiều hơn với những câu hỏi. Bài thơ này có hay không? Câu hỏi quen thuộc ấy hóa ra lại là khởi đầu của rất nhiều câu hỏi phức tạp khác. Nhưng thế nào là một “bài thơ hay”? Và hơn thế nữa. Thế nào là thơ? Đâu là ranh giới phân định cái gọi - là - thơ và cái không - phải - thơ? Cái gì thực sự tạo nên “tính thơ”?... Vấn đề càng nảy sinh khi ta tiếp xúc với các hiện tượng cụ thể, nhất là thơ hiện đại [1]. Có lẽ chưa bao giờ quan niệm về thơ/ tính thơ lại xa nhau đến thế. Cùng với điều đó, có quá nhiều cách đọc khác nhau, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, khiến câu trả lời về nghĩa và giá trị của tác phẩm càng khó tìm được điểm chung.

Tuy nhiên, cũng từ thực tế ấy, tôi nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc một bài thơ có hay hay không. Đằng sau câu hỏi về giá trị của một bài thơ còn có một câu hỏi khác: người đọc đã dựa vào đâu để đưa ra đánh giá của mình? Ấn tượng thẩm mĩ ban đầu có thể là điểm xuất phát, nhưng chưa phải là một cách đọc. Cảm giác về cái hay, cái dở của tác phẩm có thể rất thật, nhưng tự nó chưa tạo nên một lập luận thuyết phục. Đọc thơ đối với tôi, vì thế, dần trở thành một quá trình nhận thức, đi từ cảm nhận đến tự vấn, từ trực giác đến phân tích, từ phân tích đến diễn giải và từ diễn giải trở lại với văn bản. Tôi cho rằng, muốn đọc hiệu quả, cần có một tư duy cởi mở, gắn với tri thức và tinh thần trách nhiệm. Văn bản nghệ thuật không chỉ có một cách tiếp cận và ý nghĩa của nó không phải lúc nào cũng hiện ra như một thông điệp có sẵn. Người đọc phải chịu trách nhiệm về những gì mình diễn giải và mọi diễn giải muốn có sức thuyết phục đều cần trở lại với văn bản để được kiểm chứng.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

Bài thơ chữ B

               CHỮ B VÀ (CÓ THỂ KHÔNG PHẢI) BIỂN

    (Về bài thơ Chữ B của Nguyễn Thị Từ Huy)

 

                                                                                                                      Lê Hồ Quang 

Văn bản này nằm trong tập thơ Chữ cái của Từ Huy. Tập thơ được khởi nguồn từ ý tưởng thơ bắt đầu từ con chữ, là các chữ cái trong bảng ký tự ABC. Tên của bài thơ cũng là tên chữ cái. Nhưng ta chỉ biết điều đó khi đọc lại mục lục, còn nếu nhìn trên hình thức văn bản, bài thơ (bao gồm cả tiêu đề - từ ngữ - câu - đoạn – văn bản) được sắp xếp và hiện diện dưới hình dạng một chữ cái. Nói cách khác, tên bài thơ, cũng như chính bài thơ ấy, nằm trong hình dạng cụ thể của mỗi con chữ.

Vậy nên, tôi gọi bài thơ này trước hết theo hình dạng ký tự của nó (cũng là tên bài trong Mục lục), là Chữ B.

Hình thức văn bản này gây khó cho chúng ta, nếu muốn đọc theo trật tự thông thường: từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Nhưng nó cũng gợi ý, hơn thế, cho phép chúng ta thử nghiệm những cách đọc mới, với văn bản.

Ta có thể đọc theo cách 1: từ trái qua phải, trên xuống dưới. Tiếp đó, bên phải, từ trên xuống, theo hình dạng chữ. Ta có văn bản thứ nhất:

Văn bản 1

Sau khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây

 không ai coi đó là khát vọng nữa

Đại dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát

khát nước và khát vọng

Khởi đầu và kết thúc ảo tưởng về vô tận

biển chết cho những con tàu được sống.

Nhưng ta cũng có thể đọc theo một trật tự khác. Bắt đầu từ bên trái, từ trên xuống. Tiếp đó, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Ta có văn bản 2 sau đây.

Văn bản 2

Khởi đầu và kết thúc của ảo tưởng về vô tận

biển chết cho những con tàu được sống

sau khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây

không ai coi đó là khát vọng nữa.

Đại dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát

khát nước và khát vọng.

Ít nhất, ở hai cách đọc này, đều cho ra những văn bản có nghĩa. Đề tài của chúng khá chụm, đều nói về biển. Đó là lý do tôi muốn ghi thêm phụ chú tiêu đề bài thơ trong ngoặc đơn, sau CHỮ B, là BIỂN.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Thơ Thúy Hạnh

  ĐỌC THƠ MỘT NGƯỜI CH/NỮ 

(Về thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh [1]) 

                                                         


                                     

                                                                                                Lê Hồ Quang

Trong tập thơ thứ nhất của Nguyễn Thị Thúy Hạnh, hình tượng chữ xuất hiện ngay trong nhan đề - Di chữ, trong cả lời đề từ - ta đi giặt áo thơ/ mặc mới một mùa chữ. Khép lại tập thơ, ở bìa sau, hình tượng ấy được nhắc lại: tôi tái sinh lời/ chữ tái sinh tôi. Ở tập thứ hai, Văn học vết thâm, hình tượng chữ tiếp tục được khai triển, mở rộng:

“đằng sau cửa hẹp là một cái hang cũng là một con đường, một trú ẩn và một khai phóng, một hiện hữu và một dẫn dắt, một cô lập và một mời mọc, một Logos đồng bằng dựng ngược, một sống Lời và không-gì-khác…”

Có thể nói, chữ là chất liệu, hình tượng, đồng thời là hạt nhân cấu trúc nên thế giới thơ Thúy Hạnh. Chữ không chỉ được tác giả nhận thức như là công cụ, phương tiện giao tiếp mà còn là “ngôi nhà của hữu thể” (Martin Heidegger), nơi cư ngụ tinh thần thăm thẳm của con người. Có một “nhãn quan chữ” vừa thấu tỏ, tường minh, đồng thời đầy khắc khoải, không ít do dự, bất an bao bọc thế giới thơ này. 

Trong tập Văn học vết thâm, có một bài thơ ngắn khá đặc biệt - Người  ch/nữ. Có thể xem đây như một tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Xin đưa lại nguyên văn.

Người ch/nữ

                Cầm bút chẳng qua là…

EM

Người ch/nữ thiên nhiên

Người ch/nữ thời - không

                  bầu ngực ở Zen

                  đôi mắt Breton

                  rốn của mặt trăng

                  cặp đùi: A-men

EM

Người ch/nữ huyền thoại

Người ch/nữ linh nghiệm

Người ch/nữ không hiện diện

 

Người ch/nữ Đan Thiềm

        Mất ngủ đêm đêm

Cụm từ “người ch/nữ” xuất hiện 7 lần (kể cả tên bài) trong bài thơ gồm 14 dòng (kể cả đề từ). Rõ ràng, “người ch/nữ” là từ khóa chủ đề và cũng là hình tượng trung tâm của bài thơ. Tách rời phụ âm đầu của hai từ (chữ, nữ) và gộp nhập chúng lại, tạo nên một cấu trúc từ mới (ch/nữ), Thúy Hạnh đã xóa nhòa ranh giới giữa chữ và người (nữ), đồng thời, nhấn mạnh sự hợp nhất chặt chẽ giữa căn tính giới và căn tính sáng tạo của người viết. Theo đó, cả hai đều được kiến tạo bằng/ trong chữ. Chữ, như vậy, là một kí hiệu mang tính biểu tượng. Nó vừa có ý nghĩa như nguồn tinh thần uyên nguyên, là Lời (khởi thủy là Lời - Kinh Thánh), vừa là một nội dung sống, nội dung sáng tạo. 

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Thơ Bùi Chát

          THƠ TRONG HÀNH ĐỘNG SÁNG TẠO

(Về tập Chúng ta đang trôi đi đâu, Nxb Đà Nẵng, 2025, của Bùi Chát [1])

         


         

                                                            Lê Hồ Quang

 Chỉ nhìn trên mục lục, cũng có thể thấy khá rõ tính chất tập trung trong chủ đề của tập thơ này, chẳng hạn: Để bắt đầu một bài thơ, Bài thơ – hai cách xử; Nói với nhà thơ về thơ, Thơ… là mây trắng, Thơ là gì?... Lời đề từ cũng dành để nói về thơ: Thơ/ Ở bên trong/ Tôi đã lấy ra và cấu trúc lại. Riêng trong phần Những ý nghĩ trở lại (Thơ điện tín), kéo dài từ trang 55 đến 100, xuất hiện hàng loạt câu định nghĩa về thơ và sự sáng tạo, cô đọng và hàm súc như châm ngôn. Nội dung tiểu luận trong phụ lục (tác giả gọi là phần Ngoài mục lục) cũng bàn về thơ và nghệ thuật, thông qua một hiện tượng biến đổi ngôn ngữ trong bối cảnh lịch sử, chính trị cụ thể. Tóm lại, từ nhan đề tác phẩm đến bố cục nội dung các phần, đến tần số xuất hiện của các từ/ cụm từ khóa…, tất cả dường như đều nằm trong chủ ý kiến tạo một cấu trúc mang tính điều hướng tiếp nhận. Dưới áp lực tổng thể đó, dễ hiểu vì sao nhiều độc giả có xu hướng đọc tập thơ này như một cấu trúc triết lí về thơ, về nghệ thuật.  

Tuy nhiên, với tôi, điều ấn tượng nhất mà tập thơ đem lại không phải là những định nghĩa – triết lí cụ thể (nhiều khi rất hài hước, thú vị), mà nằm là ở tinh thần xây dựng và phá bỏ các định nghĩa. Thơ được Bùi Chát thể hiện như một quá trình định nghĩa và tái định nghĩa liên tục. Tìm thơ, từ góc nhìn này, không phải là tìm một định nghĩa mang tính ổn định, hoàn tất mà là tìm một diện mạo nghệ thuật đang liên tục biến đổi trong tư duy và thực hành ngôn ngữ của tác giả.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Thơ và phê bình

 

THƠ NHƯ MỘT THỰC HÀNH ĐỌC




                                                                                               Lê Hồ Quang

Thơ là gì? Tính thơ nằm ở đâu? Làm sao để tôi biết rằng đây là một bài thơ hay? Làm sao để chắc chắn rằng tôi đã hiểu đúng nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ này?...

Những câu hỏi đó thường trở đi trở lại với tôi, khi đứng trước một bài thơ. Hoàn toàn không dễ trả lời những câu hỏi như vậy.

Lí do, là bởi vì thơ không phải một ý niệm cố định, sơ giản, dễ dàng đóng cứng trong một vài gạch đầu dòng định nghĩa. Mặc dù được viết theo những quy ước thể loại, vốn mang tính công thức (ví dụ, thơ lục bát hoặc thơ thất ngôn bát cú Đường luật…), những bài thơ hay nhất vẫn thường tồn tại trong một tình thế mâu thuẫn: một mặt, chúng vừa tuân thủ hình thức thể loại, mặt khác, chúng ngấm ngầm (hoặc công khai) “chống lại” sự đồng nhất đó để khẳng định sự độc sáng. Để phân biệt với các thể loại khác, người ta thường nhấn mạnh những đặc trưng của thơ như tính trữ tình, tính hàm súc, tính biểu cảm, nhạc tính v.v., nhưng khi xem xét sáng tác thơ thuộc những những loại hình khác nhau, ta dễ dàng thấy “tính thơ” của chúng rất khác biệt. Một lí do khác, không kém phần quan trọng, liên quan đến mối quan hệ giữa thơ và chủ thể tiếp nhận. Các lí thuyết nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra một điều hiển nhiên là với những chủ thể đọc khác nhau thì thơ (tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung) có thể được diễn giải và đánh giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập gay gắt. Như vậy, thơ không phải là cái gì đó đã được định hình, hoàn tất. Nó là cái đang diễn ra, đang được khám phá, hình thành trong tiến trình đọc.

  Một khi chấp nhận rằng thơ không phải là một ý niệm khép kín, nhất thành bất biến, rằng thơ được khám phá trong tiến trình và hành vi đọc, rõ ràng quan niệm về thơ cũng như cách đọc thơ cần thay đổi. Câu hỏi đặt ra với tôi giờ đây, sẽ là: Đọc thơ như thế nào?

Ở đây, tôi tạm dùng thuật ngữ “thực hành đọc” để gọi một phương thức đọc đã hình thành qua khá nhiều năm đọc và viết của bản thân. Đó không phải là việc áp một mô hình lí thuyết có sẵn lên tác phẩm, cũng không phải việc ghi chép những ấn tượng chủ quan, tức thời. Thực hành đọc là quá trình người đọc quan sát, phân tích, diễn giải và đối thoại với văn bản trên cơ sở những bằng chứng ngôn ngữ cụ thể, từ đó hình thành tri thức và kinh nghiệm thẩm mĩ, đồng thời đào luyện năng lực đọc của chính mình. Đề cao sự tiếp xúc trực tiếp với văn bản, thực hành đọc cũng nhấn mạnh tính quá trình và trải nghiệm cá nhân, xem sự kết hợp giữa đọc và viết, viết và điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung (có thể thường xuyên, liên tục) là hoạt động thật sự cần thiết trong tư duy, nhận thức lẫn thao tác đọc.

Với tôi, đọc là một hoạt động rèn luyện tinh thần, nó được thực hiện trong ý thức thường trực về tính chất phức tạp của văn bản, của mối quan hệ giữa văn bản và bối cảnh sáng tác, tiếp nhận và là cố gắng để từng bước vượt qua giới hạn sự đọc, sự hiểu của chính mình.

Thơ Việt Nam hiện đại quả thực là một hiện tượng phức tạp, bộn bề. Bởi vậy, tôi chỉ có thể “khoanh vùng” thực hành đọc một số hiện tượng tác giả, tác phẩm nhất định. Trong số đó, có những tác giả, tác phẩm được xem là đỉnh cao, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình bàn đến như Trần Dần, Lê Đạt, Nguyễn Quang Thiều... nhưng cũng có những tác giả mới xuất hiện, ít người biết đến hơn như Linh Văn, Đặng Văn Hùng... Nhìn chung, tôi thường chú ý đến các hiện tượng thơ trong tư cách cấu trúc thẩm mĩ với các phương diện tư tưởng, thi pháp tương ứng. Đồng thời, tôi cũng bị thu hút bởi những văn bản/ hiện tượng có thể đánh thức, khơi gợi những quan niệm, suy nghĩ khác biệt, rộng rãi hơn về đời sống, lịch sử, hoạt động sáng tạo hoặc phương pháp đọc. Bởi vậy, có những tác giả, tác phẩm, trong cách đánh giá của nhiều người là “xoàng” hay “không có gì để viết”, tôi vẫn tiếp cận với nhiều hứng khởi. Bởi tôi nghĩ, vấn đề không chỉ nằm ở chỗ hiện tượng ấy có giá trị hay không, hoặc đóng góp của nó đến đâu, mà còn ở chỗ hiện tượng ấy đã đặt/ gợi ra những vấn đề gì đối với văn học, đời sống và bản thân độc giả. Có khi qua một hiện tượng/ tác phẩm dở (hoặc bị xem là) kém, dở mà ta vẫn có thể rút ra được những vấn đề lí luận và thực tiễn cần thiết, ý nghĩa (đặc biệt là với cá nhân người đọc) thì việc đọc/ viết ấy hoàn toàn không vô nghĩa. Như vậy, viết phê bình đâu chỉ là viết về những hiện tượng đỉnh cao và đâu chỉ tập trung vào việc khen hoặc chê? Ngay cả những hiện tượng được dán nhãn/ gọi là “thơ dở”, từ một góc độ nào đó, cũng thể hiện những trạng huống và tình thế lịch sử, văn hóa - thẩm mĩ nhất định, và hoàn toàn có thể khảo sát về chúng như những đối tượng khoa học nghiêm túc.

Các bài viết của tôi thường không hiện diện như là kết quả cuối cùng, đã hoàn tất, mà như là những sản phẩm đánh dấu một chặng đọc của cá nhân tôi. Có những bài tương đối dài, nội dung triển khai khá kĩ lưỡng. Có những bài mới chủ yếu dừng lại ở khung cấu tứ, ý tưởng, những ghi chép nhanh. Trên thực tế, mỗi bài viết thường có nhiều phiên bản, được sửa đi sửa lại vô số lần, nhưng dường như vẫn còn vô số điều dang dở, chưa được giải quyết thỏa đáng, vẫn cần phải được nghĩ tiếp. Thơ, như tôi tìm thấy trong thực hành đọc, không chỉ là những ý niệm hoặc những đặc điểm về cấu trúc, thi pháp đơn thuần, mà là nhận thức về ý nghĩa, giá trị của thi ca và thế giới, của đời sống cá nhân, được bồi đắp sâu sắc thêm, thúc đẩy thêm sự nghĩ, sự hiểu trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản.

Đọc và viết từng được xem là một cách để con người tự định nghĩa về bản thân mình. Tuy nhiên, vào thời điểm tôi gõ xuống bàn phím những dòng này, sự phát triển vượt bậc của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI-Artificial Intelligence) đang đặt nhân loại trước một cuộc khủng hoảng tri thức to lớn. Đã đến lúc không phải con người, mà (yếu tố vốn bị xem là) công cụ mới là yếu tố định nghĩa/ tái định nghĩa bản chất con người cũng như các hoạt động trí tuệ, bao gồm việc đọc và viết của họ. Nguy cơ thế giới bị san phẳng bởi mô hình ngôn ngữ của máy tính, của các nền tảng công nghệ chuyên sâu càng ngày càng rõ nét. Sẽ đến lúc người ta khó lòng phân biệt nổi, sự thực là Ai - hay AI đang tương tác, đối thoại với mình trên/ bằng văn bản. Tôi không đủ lạc quan để nghĩ rằng, xúc cảm hay những khả năng sáng tạo của con người có thể đủ sức chống lại xu hướng AI hóa trong tương lai gần. Thực hành đọc, với tôi, là một nỗ lực không ít cảm giác vô vọng, một cách để cố gắng hoàn tất công việc đã tạo nên đời sống lặng lẽ của mình. Nói như Tô Thùy Yên, “Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn/ Trí ta không đủ lực đo lường” (Hề, ta trở lại gian nhà cỏ). Hoặc như Nguyễn Huy Tưởng, trong vở bi kịch nổi tiếng - Vũ Như Tô: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

                                                                                Vinh, 7/6/2026

                                                                                        L.H.Q