THƠ NHƯ MỘT THỰC HÀNH ĐỌC
(hay tự thú của một người viết phê bình)
Lê Hồ Quang
Thơ là gì? Tính
thơ nằm ở đâu? Làm sao để tôi biết rằng đây là một bài thơ hay? Làm sao để chắc
chắn rằng tôi đã hiểu đúng nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ này?...
Những câu hỏi đó thường trở đi trở lại với tôi, khi đứng trước một bài thơ. Hoàn toàn không dễ trả lời những câu hỏi như vậy.
Lí do, là bởi vì thơ không phải một ý niệm cố định, sơ giản, dễ dàng đóng cứng trong một vài gạch đầu dòng định nghĩa. Mặc dù được viết theo những quy ước thể loại, vốn mang tính công thức (ví dụ, thơ lục bát hoặc thơ thất ngôn bát cú Đường luật…), những bài thơ hay nhất vẫn thường tồn tại trong một tình thế mâu thuẫn: một mặt, chúng vừa tuân thủ hình thức thể loại, mặt khác, chúng ngấm ngầm (hoặc công khai) “chống lại” sự đồng nhất đó để khẳng định sự độc sáng. Để phân biệt với các thể loại khác, người ta thường nhấn mạnh những đặc trưng của thơ như tính trữ tình, tính hàm súc, tính biểu cảm, nhạc tính v.v., nhưng khi xem xét sáng tác thơ thuộc những những loại hình khác nhau, ta dễ dàng thấy “tính thơ” của chúng rất khác biệt. Một lí do khác, không kém phần quan trọng, liên quan đến mối quan hệ giữa thơ và chủ thể tiếp nhận. Các lí thuyết nghiên cứu hiện đại đã chỉ ra một điều hiển nhiên là với những chủ thể đọc khác nhau thì thơ (tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung) có thể được diễn giải và đánh giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập gay gắt. Như vậy, thơ không phải là cái gì đó đã được định hình, hoàn tất. Nó là cái đang diễn ra, đang được khám phá, hình thành trong tiến trình đọc.
Ở đây, tôi tạm dùng thuật ngữ “thực hành đọc” để gọi một phương thức đọc đã hình thành qua khá nhiều năm đọc và viết của bản thân. Đó không phải là việc áp một mô hình lí thuyết có sẵn lên tác phẩm, cũng không phải việc ghi chép những ấn tượng chủ quan, tức thời. Thực hành đọc là quá trình người đọc quan sát, phân tích, diễn giải và đối thoại với văn bản trên cơ sở những bằng chứng ngôn ngữ cụ thể, từ đó hình thành tri thức và kinh nghiệm thẩm mĩ, đồng thời đào luyện năng lực đọc của chính mình. Đề cao sự tiếp xúc trực tiếp với văn bản, thực hành đọc cũng nhấn mạnh tính quá trình và trải nghiệm cá nhân, xem sự kết hợp giữa đọc và viết, viết và điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung (có thể thường xuyên, liên tục) là hoạt động thật sự cần thiết trong tư duy, nhận thức lẫn thao tác đọc.
Với tôi, đọc là một hoạt động rèn luyện
tinh thần, nó được thực hiện trong ý thức thường trực về tính chất phức tạp của văn bản,
của mối quan hệ giữa văn bản và bối cảnh sáng tác, tiếp nhận và là cố gắng để
từng bước vượt qua giới hạn sự đọc, sự hiểu của chính mình.
Thơ Việt Nam hiện đại quả thực là một
hiện tượng phức tạp, bộn bề. Bởi vậy, tôi chỉ có thể “khoanh vùng” thực hành đọc
một số hiện tượng tác giả, tác phẩm nhất định. Trong số đó, có những tác giả,
tác phẩm được xem là đỉnh cao, có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại,
đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình bàn đến nhưng cũng có những tác giả mới
xuất hiện, ít người biết đến hơn. Nhìn chung, tôi thường chú ý đến các hiện tượng thơ trong tư cách cấu trúc thẩm
mĩ với các phương diện tư tưởng, thi pháp tương ứng. Đồng thời, tôi cũng bị thu
hút bởi những văn bản/ hiện tượng có thể đánh thức, khơi gợi những quan niệm,
suy nghĩ khác biệt, rộng rãi hơn về đời sống, hoạt động sáng tạo hoặc phương
pháp đọc. Bởi vậy, có những tác giả, tác phẩm, trong cách đánh giá của nhiều
người là “xoàng” hay “không có gì để viết”, tôi vẫn tiếp cận với nhiều hứng
khởi. Bởi tôi nghĩ, vấn đề không chỉ nằm ở chỗ hiện tượng ấy có giá trị hay không,
hoặc đóng góp của nó đến đâu, mà còn ở chỗ hiện tượng ấy đã đặt/ gợi ra những vấn
đề gì đối với văn học, đời sống và bản thân độc giả. Có khi qua một hiện tượng/
tác phẩm dở (hoặc bị xem là) kém, dở mà ta vẫn có thể rút ra được những vấn đề
lí luận và thực tiễn cần thiết, ý nghĩa (đặc biệt là với cá nhân người đọc) thì
việc đọc/ viết ấy hoàn toàn không vô nghĩa. Như vậy, viết phê bình đâu chỉ là
viết về những hiện tượng đỉnh cao và đâu chỉ tập trung vào việc khen hoặc chê?
Ngay cả những hiện tượng được dán nhãn/ gọi là “thơ dở”, từ một góc độ nào đó,
cũng thể hiện những trạng huống và tình thế lịch sử, văn hóa - thẩm mĩ nhất
định, và hoàn toàn có thể khảo sát về chúng như những đối tượng khoa học nghiêm
túc.
Các bài viết của tôi thường
không hiện diện như là kết quả cuối cùng, đã hoàn tất, mà như là những sản phẩm
đánh dấu một chặng đọc của cá nhân tôi. Có những bài tương đối dài, nội dung
triển khai khá kĩ lưỡng. Có những bài mới chủ yếu dừng lại ở khung cấu tứ, ý tưởng,
những ghi chép nhanh. Trên thực tế, mỗi bài viết thường có nhiều phiên bản, được
sửa đi sửa lại vô số lần, nhưng dường như vẫn còn vô số điều dang dở, chưa được
giải quyết thỏa đáng, vẫn cần phải được nghĩ tiếp. Thơ, như tôi tìm thấy trong
thực hành đọc, không chỉ là những ý niệm hoặc những đặc điểm về cấu trúc, thi
pháp đơn thuần, mà là nhận thức về ý nghĩa, giá trị của thi ca và thế giới, của
đời sống cá nhân, được bồi đắp sâu sắc thêm, thúc đẩy thêm sự nghĩ, sự hiểu trong
quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản.
Đọc và viết từng được xem là một cách để
con người tự định nghĩa về bản thân mình. Tuy nhiên, vào thời điểm tôi gõ xuống
bàn phím những dòng này, sự phát triển vượt bậc của công nghệ số và trí tuệ
nhân tạo (AI-Artificial Intelligence) đang đặt nhân loại trước một cuộc
khủng hoảng tri thức to lớn. Đã đến lúc không phải con người, mà (yếu tố vốn bị
xem là) công cụ mới là yếu tố định nghĩa/ tái định nghĩa bản chất con người
cũng như các hoạt động trí tuệ, bao gồm việc đọc và viết của họ. Nguy cơ thế giới
bị san phẳng bởi mô hình ngôn ngữ của máy tính, của các nền tảng công nghệ
chuyên sâu càng ngày càng rõ nét. Sẽ đến lúc người ta khó lòng phân biệt nổi, sự
thực là Ai - hay AI đang tương tác, đối thoại với mình trên/ bằng văn bản. Tôi
không đủ lạc quan để nghĩ rằng, xúc cảm hay những khả năng sáng tạo của con người
có thể đủ sức chống lại xu hướng AI hóa trong tương lai gần. Thực hành đọc, với
tôi, là một nỗ lực không ít cảm giác vô vọng, một cách để cố gắng hoàn tất công
việc đã tạo nên phần đời sống lặng lẽ của mình. Nói như Tô Thùy Yên, “Nghĩ tới
bao điều thầm lặng lớn/ Trí ta không đủ lực đo lường” (Hề, ta trở lại
gian nhà cỏ). Hoặc như Nguyễn Huy Tưởng, trong vở bi kịch nổi tiếng - Vũ
Như Tô: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.
Vinh, 7/6/2026
L.H.Q


