Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Thơ Trang Thanh

                                                 ĐƯỜNG TÓC TRANG THANH

(Về tập trên con đường tóc của Trang Thanh [1], 2025, Nxb Hội Nhà văn)


 

https://baovannghe.vn

                                            

                                                     Lê Hồ Quang


Đường tóc như một lối vào thơ

Tính đến nay, Trang Thanh đã xuất bản bốn tập thơ: bay lặng im (2008), mây trắng (2011), thanh không (2023), trên con đường tóc (2025). So với ba tập trước, trên con đường tóc vẫn tiếp tục mạch trữ tình thân phận, nhưng nghiêng  sang khái quát, chiêm nghiệm với hình tượng trung tâm là đường tóc. Thực ra, không khó để nhận ra đường tóc là ẩn dụ cho con đường cuộc đời, số phận của người phụ nữ. Nhưng trong thơ Trang Thanh, con đường ấy còn là hiện thân của những trải nghiệm, kinh nghiệm sống cụ thể và những trạng thái xúc cảm sâu kín, riêng tư, dễ tổn thương của một con người. Và bởi thế, đi từ ý nghĩa là nơi ghi dấu những trải nghiệm thân thể, ký ức và thời gian, hình tượng này dần chuyển hóa thành một cách hình dung về chữ và hành vi sáng tạo, nối liền lịch sử đời sống với lịch sử nội tâm của chủ thể trữ tình.

Bài thơ trên con đường tóc (tên bài này cũng chính là tên của tập thơ) thể hiện rõ cảm hứng hướng về con đường tóc, cũng là con đường đời, con đường số phận của "người đàn bà đi trong đêm":

người đàn bà đi trong đêm tối đen bằng tóc

trên con đường vô tận tết bằng muôn sợi tóc rụng

từ mái đầu nhỏ bé của nàng

 

nàng nhẹ như hơi thở

để con đường mỏng mảnh không bao giờ đứt

cứ nối dài mãi tựa nỗi đau trong tim đang chảy máu

nuôi con đường chạy đến vô cùng

 

tóc có khi nào biết khóc

tóc có khi nào biết cười

có ai đó hỏi nàng, u âm miệng vực.

 

nếu nàng ngã xuống trên sợi tóc

vực sâu giải thoát cho nàng

Tóc là một hình ảnh hết sức quen thuộc trong thơ cổ điển, tượng trưng cho vẻ đẹp của nữ giới hoặc sự trôi chảy nghiệt ngã của thời gian, ví dụ “vân tấn (tóc mây) - Vân tấn hoa nhan kim bộ dao (Tóc mây, mặt hoa, trâm vàng rung động) trong thơ Bạch Cư Dị - Trường hận ca; hoặc “bạch phát” (tóc bạc) - Triều như thanh ti mộ thành tuyết (Sáng còn như tơ xanh, chiều đã thành tuyết trắng) trong thơ Lí Bạch – Thương tiến tửu… Đây cũng là hình ảnh quen thuộc trong thơ nhiều tác giả hiện đại, diễn tả vẻ đẹp thân thể của nữ giới, dấu ấn của thời gian, tuổi tác và sự suy tàn. Tuy nhiên, trong thơ Trang Thanh, tóc đã trở thành một hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt. Hãy đọc lại trên con đường tóc. Bài thơ có ba hình ảnh kết nối chặt chẽ: con đường - người đàn bà - tóc. Con đường được kết dệt bởi “muôn sợi tóc rụng” của người đàn bà “nhẹ như hơi thở”. Đó là một con đường “tối đen”, “vô tận”, “mỏng mảnh không bao giờ đứt”, “tựa nỗi đau trong tim”. Con đường tóc cũng là con đường thời gian, con đường nội tâm. Tóc, với sắc đen, gợi hình ảnh bóng đêm, sự đen tối, cảm giác đe dọa. Tóc rụng là ám ảnh của sự hư hoại, tàn phai. Tuy nhiên chính những sợi tóc rụng, vốn gợi sự mất mát, lại kết dệt nên con đường “không bao giờ đứt”. Nghĩa là sự suy mòn của thân thể đồng thời trở thành điều kiện để con đường cuộc đời, số phận ấy tiếp tục tồn tại. Hình ảnh giả định “nếu nàng ngã xuống trên sợi tóc”, gợi liên tưởng đến một tình thế hiểm nghèo, như ngàn cân treo sợi tóc, đồng thời nhấn mạnh tính chất đau khổ của con đường định mệnh, bởi vực sâu - có thể hiểu như cái chết chực chờ - với “nàng”, đã là sự giải thoát so với cuộc sống thực tại. Ở đây, bộ ba hình tượng con đường - người đàn bà - tóc đã được hợp nhất trong một nhãn quan thẩm mĩ mang tính đặc thù.

Như vậy, đường tóc là một biểu tượng quan trọng, hàm chứa những ý nghĩa độc đáo trong thơ Trang Thanh. Hoàn toàn có thể xem “đường tóc” như một chìa khóa mở lối vào thế giới nghệ thuật trong tập trên con đường tóc nói riêng, sáng tác thơ của Trang Thanh nói chung.

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2026

Thơ Đinh Trần Phương

 

KHOẢNH KHẮC THƠ

(Về thơ Đinh Trần Phương [1])

 

                              Lê Hồ Quang 

Trong văn học đương đại Việt Nam, nếu những tìm tòi thơ theo hướng cách tân hình thức thường được tiếp nhận với thái độ nghi ngại, thậm chí đánh đồng với sự rối rắm, bí hiểm, lai căng, thì ở chiều ngược lại, những sáng tác thơ theo hướng tối giản lại đứng trước một phản ứng khác: bị xem là đơn giản, nông cạn, nghèo chữ nghèo nghĩa. Đó là một phản ứng đọc đầy oái oăm nhưng có thực.

Xin lưu ý, đây không chỉ là phản ứng về một loại thơ. Có lẽ đây cũng là phản ứng quen thuộc trước một “loại hình thơ” lớn hơn, đấy là thơ đương đại. Hễ cứ cái gì khác, lạ, không quen, lập tức những câu hỏi nghi vấn được cất lên, không phải để chất vấn, suy tư, mà để kết án, buộc tội, rằng đó không phải thơ, đúng hơn, không phải là thơ như người đọc ấy mặc định. Nhưng vậy thì phải chăng trên đời chỉ có duy nhất một loại thơ? Hoặc, khi đã dán nhãn cho một sáng tác là thơ, thì đương nhiên, những sản phẩm khác, hoặc là phải tự gò vào những đặc điểm có tính định mệnh thể loại đó, hoặc không có quyền định danh nó là thơ nữa?

Trở lại với vấn đề đã nêu trong mở đầu, có thực loại thơ ngắn, tối giản trong sáng tác của nhiều tác giả đương đại là dễ viết, dễ đọc? Có thực những tìm tòi theo hướng thơ tối giản chỉ là một hành động chế tác thuần kĩ thuật, dễ dãi và nông nghĩa? Quả thực, điểm chung giữa các sáng tác ngắn như thơ haikâu của Lê Đạt, thơ haiku của Nhật Chiêu, Đinh Trần Phương, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Văn Hùng, thơ ba câu của Mai Văn Phấn, thơ ngắn của Mai Quỳnh Nam, Đặng Văn Hùng…, là hết sức kiệm chữ, kiệm lời. Mỗi bài thường chỉ vài ba dòng với một vài hình ảnh, có nhan đề hoặc không. Nhưng không dễ đọc. Lại càng không thể nói chúng ít nghĩa/ ý nghĩa. Vấn đề là, làm sao để có thể “đọc ra” nghĩa/ ý nghĩa trong cấu trúc cực kì tối giản và đồng thời, lại có vẻ hết sức đơn giản ấy?

Tôi muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên qua một trường hợp cụ thể - thơ haiku của Đinh Trần Phương, với hai tập Cánh trăng (2014) và Giấc mơ của bàn tay (2021).

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Cách đọc thơ

                          ĐỌC THƠ NHƯ THẾ NÀO?



                    Lê Hồ Quang

Với tôi, đọc thơ trước hết là một sở thích cá nhân. Trong tư cách độc giả, tôi không tìm kiếm điều gì hơn ngoài việc nhờ thơ chia sẻ, giải tỏa tâm trạng, cảm xúc của mình. Cái hay của thơ, do vậy, được định nghĩa bằng việc nó thiết lập nhanh hay chậm sự đồng cảm, mức độ sâu sắc của ẩn dụ và khả năng khêu gợi cảm giác, cảm xúc nhờ vào những từ “hay”, “đắt”, nói theo cách giáo khoa thư. Nhưng càng ngày, cùng với việc phải tìm hiểu sâu hơn về thơ, tôi càng phải đối mặt nhiều hơn với những câu hỏi. Bài thơ này có hay không? Câu hỏi quen thuộc ấy hóa ra lại là khởi đầu của rất nhiều câu hỏi phức tạp khác. Nhưng thế nào là một “bài thơ hay”? Và hơn thế nữa. Thế nào là thơ? Đâu là ranh giới phân định cái gọi - là - thơ và cái không - phải - thơ? Cái gì thực sự tạo nên “tính thơ”?... Vấn đề càng nảy sinh khi ta tiếp xúc với các hiện tượng cụ thể, nhất là thơ hiện đại [1]. Có lẽ chưa bao giờ quan niệm về thơ/ tính thơ lại xa nhau đến thế. Cùng với điều đó, có quá nhiều cách đọc khác nhau, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, khiến câu trả lời về nghĩa và giá trị của tác phẩm càng khó tìm được điểm chung.

Tuy nhiên, cũng từ thực tế ấy, tôi nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc một bài thơ có hay hay không. Đằng sau câu hỏi về giá trị của một bài thơ còn có một câu hỏi khác: người đọc đã dựa vào đâu để đưa ra đánh giá của mình? Ấn tượng thẩm mĩ ban đầu có thể là điểm xuất phát, nhưng chưa phải là một cách đọc. Cảm giác về cái hay, cái dở của tác phẩm có thể rất thật, nhưng tự nó chưa tạo nên một lập luận thuyết phục. Đọc thơ đối với tôi, vì thế, dần trở thành một quá trình nhận thức, đi từ cảm nhận đến tự vấn, từ trực giác đến phân tích, từ phân tích đến diễn giải và từ diễn giải trở lại với văn bản. Tôi cho rằng, muốn đọc hiệu quả, cần có một tư duy cởi mở, gắn với tri thức và tinh thần trách nhiệm. Văn bản nghệ thuật không chỉ có một cách tiếp cận và ý nghĩa của nó không phải lúc nào cũng hiện ra như một thông điệp có sẵn. Người đọc phải chịu trách nhiệm về những gì mình diễn giải và mọi diễn giải muốn có sức thuyết phục đều cần trở lại với văn bản để được kiểm chứng.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

Bài thơ chữ B

               CHỮ B VÀ (CÓ THỂ KHÔNG PHẢI) BIỂN

    (Về bài thơ Chữ B của Nguyễn Thị Từ Huy)

 

                                                                                                                      Lê Hồ Quang 

Văn bản này nằm trong tập thơ Chữ cái của Từ Huy. Tập thơ được khởi nguồn từ ý tưởng thơ bắt đầu từ con chữ, là các chữ cái trong bảng ký tự ABC. Tên của bài thơ cũng là tên chữ cái. Nhưng ta chỉ biết điều đó khi đọc lại mục lục, còn nếu nhìn trên hình thức văn bản, bài thơ (bao gồm cả tiêu đề - từ ngữ - câu - đoạn – văn bản) được sắp xếp và hiện diện dưới hình dạng một chữ cái. Nói cách khác, tên bài thơ, cũng như chính bài thơ ấy, nằm trong hình dạng cụ thể của mỗi con chữ.

Vậy nên, tôi gọi bài thơ này trước hết theo hình dạng ký tự của nó (cũng là tên bài trong Mục lục), là Chữ B.

Hình thức văn bản này gây khó cho chúng ta, nếu muốn đọc theo trật tự thông thường: từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Nhưng nó cũng gợi ý, hơn thế, cho phép chúng ta thử nghiệm những cách đọc mới, với văn bản.

Ta có thể đọc theo cách 1: từ trái qua phải, trên xuống dưới. Tiếp đó, bên phải, từ trên xuống, theo hình dạng chữ. Ta có văn bản thứ nhất:

Văn bản 1

Sau khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây

 không ai coi đó là khát vọng nữa

Đại dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát

khát nước và khát vọng

Khởi đầu và kết thúc ảo tưởng về vô tận

biển chết cho những con tàu được sống.

Nhưng ta cũng có thể đọc theo một trật tự khác. Bắt đầu từ bên trái, từ trên xuống. Tiếp đó, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Ta có văn bản 2 sau đây.

Văn bản 2

Khởi đầu và kết thúc của ảo tưởng về vô tận

biển chết cho những con tàu được sống

sau khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây

không ai coi đó là khát vọng nữa.

Đại dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát

khát nước và khát vọng.

Ít nhất, ở hai cách đọc này, đều cho ra những văn bản có nghĩa. Đề tài của chúng khá chụm, đều nói về biển. Đó là lý do tôi muốn ghi thêm phụ chú tiêu đề bài thơ trong ngoặc đơn, sau CHỮ B, là BIỂN.

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Thơ Thúy Hạnh

  ĐỌC THƠ MỘT NGƯỜI CH/NỮ 

(Về thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh [1]) 

                                                         


                                     

                                                                                                Lê Hồ Quang

Trong tập thơ thứ nhất của Nguyễn Thị Thúy Hạnh, hình tượng chữ xuất hiện ngay trong nhan đề - Di chữ, trong cả lời đề từ - ta đi giặt áo thơ/ mặc mới một mùa chữ. Khép lại tập thơ, ở bìa sau, hình tượng ấy được nhắc lại: tôi tái sinh lời/ chữ tái sinh tôi. Ở tập thứ hai, Văn học vết thâm, hình tượng chữ tiếp tục được khai triển, mở rộng:

“đằng sau cửa hẹp là một cái hang cũng là một con đường, một trú ẩn và một khai phóng, một hiện hữu và một dẫn dắt, một cô lập và một mời mọc, một Logos đồng bằng dựng ngược, một sống Lời và không-gì-khác…”

Có thể nói, chữ là chất liệu, hình tượng, đồng thời là hạt nhân cấu trúc nên thế giới thơ Thúy Hạnh. Chữ không chỉ được tác giả nhận thức như là công cụ, phương tiện giao tiếp mà còn là “ngôi nhà của hữu thể” (Martin Heidegger), nơi cư ngụ tinh thần thăm thẳm của con người. Có một “nhãn quan chữ” vừa thấu tỏ, tường minh, đồng thời đầy khắc khoải, không ít do dự, bất an bao bọc thế giới thơ này. 

Trong tập Văn học vết thâm, có một bài thơ ngắn khá đặc biệt - Người  ch/nữ. Có thể xem đây như một tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Xin đưa lại nguyên văn.

Người ch/nữ

                Cầm bút chẳng qua là…

EM

Người ch/nữ thiên nhiên

Người ch/nữ thời - không

                  bầu ngực ở Zen

                  đôi mắt Breton

                  rốn của mặt trăng

                  cặp đùi: A-men

EM

Người ch/nữ huyền thoại

Người ch/nữ linh nghiệm

Người ch/nữ không hiện diện

 

Người ch/nữ Đan Thiềm

        Mất ngủ đêm đêm

Cụm từ “người ch/nữ” xuất hiện 7 lần (kể cả tên bài) trong bài thơ gồm 14 dòng (kể cả đề từ). Rõ ràng, “người ch/nữ” là từ khóa chủ đề và cũng là hình tượng trung tâm của bài thơ. Tách rời phụ âm đầu của hai từ (chữ, nữ) và gộp nhập chúng lại, tạo nên một cấu trúc từ mới (ch/nữ), Thúy Hạnh đã xóa nhòa ranh giới giữa chữ và người (nữ), đồng thời, nhấn mạnh sự hợp nhất chặt chẽ giữa căn tính giới và căn tính sáng tạo của người viết. Theo đó, cả hai đều được kiến tạo bằng/ trong chữ. Chữ, như vậy, là một kí hiệu mang tính biểu tượng. Nó vừa có ý nghĩa như nguồn tinh thần uyên nguyên, là Lời (khởi thủy là Lời - Kinh Thánh), vừa là một nội dung sống, nội dung sáng tạo. 

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

Thơ Bùi Chát

          THƠ TRONG HÀNH ĐỘNG SÁNG TẠO

(Về tập Chúng ta đang trôi đi đâu, Nxb Đà Nẵng, 2025, của Bùi Chát [1])

         


         

                                                            Lê Hồ Quang

 Chỉ nhìn trên mục lục, cũng có thể thấy khá rõ tính chất tập trung trong chủ đề của tập thơ này, chẳng hạn: Để bắt đầu một bài thơ, Bài thơ – hai cách xử; Nói với nhà thơ về thơ, Thơ… là mây trắng, Thơ là gì?... Lời đề từ cũng dành để nói về thơ: Thơ/ Ở bên trong/ Tôi đã lấy ra và cấu trúc lại. Riêng trong phần Những ý nghĩ trở lại (Thơ điện tín), kéo dài từ trang 55 đến 100, xuất hiện hàng loạt câu định nghĩa về thơ và sự sáng tạo, cô đọng và hàm súc như châm ngôn. Nội dung tiểu luận trong phụ lục (tác giả gọi là phần Ngoài mục lục) cũng bàn về thơ và nghệ thuật, thông qua một hiện tượng biến đổi ngôn ngữ trong bối cảnh lịch sử, chính trị cụ thể. Tóm lại, từ nhan đề tác phẩm đến bố cục nội dung các phần, đến tần số xuất hiện của các từ/ cụm từ khóa…, tất cả dường như đều nằm trong chủ ý kiến tạo một cấu trúc mang tính điều hướng tiếp nhận. Dưới áp lực tổng thể đó, dễ hiểu vì sao nhiều độc giả có xu hướng đọc tập thơ này như một cấu trúc triết lí về thơ, về nghệ thuật.  

Tuy nhiên, với tôi, điều ấn tượng nhất mà tập thơ đem lại không phải là những định nghĩa – triết lí cụ thể (nhiều khi rất hài hước, thú vị), mà nằm là ở tinh thần xây dựng và phá bỏ các định nghĩa. Thơ được Bùi Chát thể hiện như một quá trình định nghĩa và tái định nghĩa liên tục. Tìm thơ, từ góc nhìn này, không phải là tìm một định nghĩa mang tính ổn định, hoàn tất mà là tìm một diện mạo nghệ thuật đang liên tục biến đổi trong tư duy và thực hành ngôn ngữ của tác giả.