Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2026

Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh

  

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

(lưu lại vài ý nghĩ về trích đoạn trong SGK Kết nối, trước khi văn bản bị thay)

     

                 


                               

                                                                        Lê Hồ Quang

   Thật đáng buồn, lịch sử nhân loại cũng là lịch sử của nhiều cuộc chiến đẫm máu và điều đó còn tiếp diễn đến tận hiện tại. Chiến tranh là đề tài văn học quen thuộc với nhiều tác phẩm lừng lẫy: Iliad, Odyssêy – (Homer, Hy Lạp), Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung, Đông chu liệt quốc – Phùng Mộng Long (Trung Quốc), Chiến tranh và hoà bình – Lev Tolstoy; Sông Đông êm đềm – Sholokhov; Cuộc đời và số phận – Vasily Grossman (Nga), Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ – Svetlana Alexievich, Belarus, Giã từ vũ khí – (Ernest Miller Hemingway, Mỹ), Phía tây không có gì lạ – Erich Maria Remarque (Đức),… và vô số tác phẩm khác. Chiến tranh cũng là đề tài quen thuộc trong điện ảnh: Nghệ sĩ dương cầm của đạo diễn Roman Polanski, Phía Tây không có gì lạ của đạo diễn Edward Berger; hội hoạ: Ngày 3 tháng 5 năm 1808 của Francisco Goya, Guernica của Pablo Picasso,…. Trong nhiều tác phẩm, chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc, sự huỷ diệt nhân tính và để lại những chấn thương kinh hoàng, dai dẳng trong đời sống con người, ngay cả khi nó đã kết thúc. Mặt khác, chiến tranh cũng là môi trường để thử thách và bồi đắp những giá trị tinh thần cao đẹp như lòng yêu nước, tình đồng đội, và ý thức bảo vệ nền hoà bình của quốc gia, dân tộc, nhân loại. 

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Thơ Trần Hạ Vi

                THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO

                      (Về thơ Trần Hạ Vi)

                   

                                            


                                                

                                                                                                        Lê Hồ Quang

Tôi biết gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?

Đây là thông tin căn bản mà tôi có:

Trần Hạ Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc. Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao học và Tiến sĩ (PhD) ngành Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang định cư tại Canada. Phó Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova Scotia.

Tác phẩm đã xuất bản: Lật tung miền kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2020; Phiến Hạ (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].

Trên Facebook (FB) cá nhân [2], thông tin tác giả chia sẻ đem lại cho chúng ta một hình dung tương đối thống nhất về con người và cuộc đời chị: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống gia đình viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ, một cô con gái nhỏ xinh xắn… Những bài viết trên FB và một số Website văn học nghệ thuật trong thời gian gần đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Nguyễn Yến Ngọc: sự mở rộng của mối quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời sống văn hóa, xã hội, chính trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ; tính cách bộc trực, thẳng thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và thảo luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.

Tuy nhiên, trên FB của mình, bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi (đặt theo họ mẹ) chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và tập thứ tư (?) dự kiến là Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử ngoài đời – tác giả, nhà giáo Nguyễn Yến Ngọc, chân dung của tác giả Trần Hạ Vi trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua hành động và quá trình sáng tạo. 

Ý thức tự kiến tạo [3] trong thơ được tôi hiểu như sau:

- Thơ là một cách để tác giả “kiến tạo và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội tâm của chủ thể – đồng thời định hình căn tính tinh thần của mình trong diễn ngôn thẩm mĩ.

-  Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo qua thơ/ bằng thơ và vận động, biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định, bất biến.  

- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.  

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Truyện ngắn Ý Nhi

Không khí, nhịp điệu và suy tưởng: đọc chậm truyện ngắn Ý Nhi

 


Nhà thơ Ý Nhi

                                                                                              Lê Hồ Quang

 Dù có trong tay bản thảo tập Con ngựa trên bãi biển đã khá lâu, phải sau nhiều lần đọc, tôi mới có thể bước vào thế giới truyện ngắn của Ý Nhi. Lí do có lẽ bởi vì rất khó để áp khung lí thuyết và các khái niệm công cụ tự sự quen thuộc để tiếp cận và lí giải cấu trúc nghệ thuật ấy. Ở đây, không phải đề tài, sự kiện hay nhân vật mà không khí, nhịp điệu và suy tưởng mới thực sự là linh hồn của truyện kể. Chúng kết nối và tác động chặt chẽ với nhau, tạo nên bầu không khí thẩm mĩ rất riêng nhưng không dễ định hình và khái quát hóa. Bởi vậy, ít nhất là với tôi, truyện ngắn Ý Nhi đòi hỏi một cách đọc tương thích: đi sâu vào cấu trúc chỉnh thể của văn bản, trong tiến trình trải nghiệm cụ thể ngôn từ, hình tượng.

Không khí trong truyện ngắn của Ý Nhi được tạo nên bởi nhiều yếu tố: không gian, thời gian, cảnh sắc, ngôn ngữ, sắc thái tâm lí… Không gian hoặc nhỏ hẹp (một căn phòng lợp tôn, một khu chung cư cũ, một con hẻm nhỏ, một quán cà phê…) hoặc rộng rãi nhưng mơ hồ, phiếm chỉ (một bãi biển, một sân ga, một hòn đảo…). Tính chất mơ hồ này càng nổi rõ hơn khi tên địa danh được đặt một cách bất định như phố Y, hẻm X, quán cà phê M… Khoảng cách không gian cũng có tính chủ quan hóa, có thể “co giãn, tùy theo độ đậm nhạt của các mối quan hệ, tùy theo tình cảm của họ với nhau” (Chiều). Đấy là không gian của hồi ức, của suy ngẫm, xúc cảm, hiển nhiên không thể đo lường bằng thước đo vật lí.

Nhân vật trong truyện thường được gọi bằng các từ xưng hô phi cá thể hóa: ông, anh. Tên riêng có khi chỉ là những chữ viết tắt: T., M., K… Tôi nghĩ điều này là có chủ ý. Nó nhằm mục đích xóa mờ căn cước tiểu sử - xã hội để tập trung vào căn cước tâm hồn của con người. Trong các câu chuyện, nhân vật dường như “chỉ dành tất cả thời gian cho việc đi đi lại lại” (Dấu vết) giữa các không gian thực và ảo, quá khứ và hiện tại, hiện thực và mộng tưởng. Ví dụ, trong truyện Đường qua công viên, hành trình nhân vật chính đi qua mấy dãy phố để đến với quán cà phê quen thuộc, vốn chỉ vài bước chân, cũng là hành trình trải nghiệm lại những hồi ức, kỉ niệm của thời thanh xuân sôi nổi với cà phê, khói thuốc, sách vở của mấy chục năm về trước. Còn trong truyện Người đứng bên kia đường, chỉ trong một căn phòng hẹp, với cửa sổ mở nhìn sang bên kia đường, nhân vật đã có thể sống lại trong vô số những chiều kích không gian khác nhau gắn với hoài niệm, tình yêu, sự li tán, mất mát… Không gian thực tại và không gian nội tâm luôn đan cài, chuyển dịch. Có thể hình dung đấy như những chuyến phiêu du tinh thần mà sự thay đổi của không gian cho phép con người có cơ hội quan sát, nhận thức, trải nghiệm lại cuộc đời của chính mình, trong bối cảnh, góc nhìn tham chiếu khác.

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2025

Trường ca của Nguyễn Quang Thiều

                                                CẤU TRÚC MỘT ÁC MỘNG

(Về trường ca Lò Mổ của Nguyễn Quang Thiều, Nxb Hội Nhà văn, 2025)

                                                                                                                                                                                                  Chúng ta phải đi qua đêm tối này

                                                                      (Chương 18 - Hãy đứng dậy)                            


Tranh của Nguyễn Quang Thiều

                                                                                
              Lê Hồ Quang
            
            1. Lời mở

Trong lời mở đầu Lò Mổ, Nguyễn Quang Thiều khẳng định: “Viết chỉ là một hành động mang tính cá nhân. Ngay cả khi những trang viết được công khai với bất cứ hình thức nào cũng chỉ là hành động của cá nhân. Tôi “cá nhân hóa” toàn bộ Lò Mổ”.

Nhưng viết có thực chỉ là một hành động cá nhân? Tôi nghĩ, nếu xét về bản chất sáng tạo thì đúng vậy - viết là một hành động cá nhân, bởi trong quá trình viết, tác giả luôn thể hiện nhãn quan, bút pháp và quan niệm riêng về thế giới. Tuy nhiên, khi tác giả cất tiếng bằng ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ nghệ thuật, họ đã đồng thời tham gia vào một quy ước giao tiếp cộng đồng đặc thù. Một khi tác phẩm bước vào đời sống văn học, nó phải tuân thủ các quy tắc giao tiếp xã hội và chấp nhận những phản ứng trái chiều từ cộng đồng tiếp nhận, diễn giải. Khi đó, từ một hành động cá nhân, viết đã trở thành một hành động xã hội.

Việc Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh tính cá nhân của hành động viết, tính chất “ác mộng” của Lò Mổ và khẳng định “tôi không có hy vọng tìm được cơ hội để chia sẻ câu chuyện này với ai khác ngoài tôi” không chỉ là một cách nói mang tính trữ tình (dù “nói” bằng các ẩn dụ thống thiết là phong cách quen thuộc của nhà thơ này). Có lẽ, sự tiếp nhận trái chiều từ phía độc giả đã được ông lường trước, trước khi trình ra “cơn ác mộng” của mình. Trên thực tế, khi chính thức ra mắt vào cuối năm 2024, Lò Mổ đã gây ra những tiếp nhận trái ngược khá gay gắt. Những tranh cãi xung quanh tập trường ca này có lúc bị đẩy lên đỉnh điểm, buộc tác giả phải lên tiếng nhờ pháp luật can thiệp[1]. Trước đó, tập Sự mất ngủ của lửa (xuất bản năm 1992, nhận Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993) của ông cũng gây ra những tranh luận gay gắt tương tự trong giới chuyên môn và độc giả nói chung[2]... Có thể nói, đấy là cách để tác giả vạch ranh giới và xác lập một giao ước đọc/ tiếp nhận với độc giả. Điều này vừa cho thấy quan niệm cá nhân của ông về hành động viết, hé lộ cấu trúc hình tượng đặc biệt của tác phẩm, đồng thời thể hiện sự trải nghiệm và hiểu biết về một cộng đồng diễn giải phức tạp mà ở đó sự viết và sự đọc không phải bao giờ cũng tương thích. Tôi nghĩ hành vi tự giới hạn này không phải xuất phát từ sự kiêu hãnh về phẩm chất cá nhân của cái tôi nghệ sĩ (Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hát chơi - Xuân Diệu) hay ý thức về quyền uy tuyệt đối của chủ thể trong sáng tạo (Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy - Thanh Tâm Tuyền), mà là một sự tự phòng vệ thì đúng hơn (thực tế những gì xảy ra sau khi cuốn sách ra đời cũng chứng thực rằng sự phòng vệ này là đúng). Mặt khác, ngược lại với mong muốn của tác giả (“tôi không muốn ý chí can thiệp vào cơn mộng mị của tôi”), nó cho thấy một cơ chế kiểm soát/ tự kiểm soát mang tính lí trí rất rõ. Dĩ nhiên, một khi còn phải nói về viết như một nỗ lực “vượt thoát khỏi tự do” thì như một nghịch lí, ta thấy rõ hơn lúc nào hết, cả sự thiếu tự do lẫn sự kiềm tỏa đáng ngại của những thiết chế văn hóa, chính trị, xã hội đang công khai hoặc ngầm ẩn chi phối đời sống sáng tạo.

Tôi muốn xem Lời mở đầu này như một bộ phận hữu cơ của trường ca Lò Mổ, đường viền ngoài nhưng sắc nét, giàu tính hiện thực của “ác mộng” về thế giới “mà tôi đang sống” (Nguyễn Quang Thiều). Nó là một đề dẫn, một gợi ý, một khuyến nghị đáng quan tâm trước khi độc giả bước vào thế giới của Lò Mổ.

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

Phê bình - tiểu luận của Mai Văn Phấn (2)

                                       TRONG ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC TIN

(Về cuốn tiểu luận - phê bình văn học Trong Ơn gọi

của Vincent Mai Văn Phấn, Nxb Đồng Nai, 2025)

                                                                     



                    Lê Hồ Quang

 Khi chọn văn học Công giáo làm đối tượng nghiên cứu, phê bình, Mai Văn Phấn đã bộc lộ một ý thức và tâm thế viết đặc biệt. Với ông, viết mang ý nghĩa “sự mầu nhiệm của Ơn Gọi”[1], thấm đẫm ánh sáng của Đức tin hướng về những giá trị thiêng liêng của Thiên Chúa và Cõi Sáng tạo. Viết cũng là sự thôi thúc mãnh liệt tự bên trong, nhằm đáp lời tiếng gọi mầu nhiệm của Thiên Chúa, tiếng gọi của Cõi Thiêng cuộc đời, nghệ thuật. Sự kết hợp nhiều tư cách trong ngòi bút Mai Văn Phấn - một tác giả phê bình, một nghệ sĩ sáng tạo, một Kitô hữu nhiệt thành - vừa tự nhiên, tất yếu, lại vừa mang tính chủ đích, giúp ông trở nên đặc biệt bén nhạy trong việc nắm bắt, khai mở những điều huyền nhiệm, sâu xa trong tác phẩm, điều mà một độc giả bình thường như tôi khó có thể đọc ra.

 Trong Ơn Gọi, ngoài phần Giới thiệu (của Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản) và lời bạt (của Linh mục Giuse Cao Gia An, S.J.) được cấu trúc thành hai phần, gồm phần 1. Hạt Giống Tin Mừng; phần 2: Ánh Sáng Đấng - Tình - Yêu. Phần 1 có tính tổng quan, gồm 4 tiểu luận, 3 bài đầu tập trung vào các vấn đề nổi bật trong văn học Công giáo Việt Nam (hành trình cứu chuộc, cảm thức đức tin, ngôn ngữ cầu nguyện…); tiểu luận thứ tư nói về hành trình sáng tạo của chính tác giả, vốn là một tín hữu Công giáo, đồng thời cũng là một tác giả có một quá trình sáng tạo lâu dài. Tiểu luận thứ tư vừa có tính chia sẻ, đồng thời là sự kết nối, cộng thông tinh thần của cá nhân Mai Văn Phấn với cộng đoàn Công giáo. Phần 2 gồm 20 tiểu luận, mở đầu bằng tiểu luận bàn về cuốn tự truyện Hy vọng của Đức Giáo hoàng Phanxicô và tiếp đó là các tiểu luận bàn về các hiện tượng văn học Công giáo Việt Nam hiện đại tiêu biểu, bao gồm  nhiều tác giả thơ, truyện, tùy bút, dịch thuật. Sự tập trung chủ đề tạo nên tính chất nhất quán, liền mạch, thể hiện khát vọng xây dựng, cống hiến cho cộng đoàn rất rõ.

Theo tôi hiểu, “Hạt giống Tin Mừng” và “Ánh sáng Đấng - Tình - Yêu” là những mô típ thiêng liêng, thường được sử dụng như biểu tượng nghệ thuật để nói về mầm mống tôn giáo, niềm khát khao thiêng liêng và ánh sáng cứu độ được gieo vào đời sống, văn hoá và thơ ca. Hành trình cứu chuộc là nền tảng để hình thành niềm tin và đời sống cầu nguyện của tín hữu. Đức tin là con đường để con người đón nhận ơn cứu chuộc. Cầu nguyện là cách thức để con người liên hệ với Thiên Chúa và đối thoại với Ngài. Như vậy, Cứu chuộc - Đức tin - Cầu nguyện là ba yếu tố cốt lõi, gắn bó hữu cơ trong Ki tô giáo, là “tam vị nhất thể”, tạo nên cấu trúc nhỏ nằm trong cấu trúc lớn - Hạt Giống Tin Mừng. Nội dung tập phê bình Trong Ơn Gọi, về căn bản, được xây dựng trên cấu trúc hệ thống biểu tượng này.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

Nửa thế kỉ văn học Việt Nam

                                NỬA THẾ KỈ VĂN HỌC VIỆT NAM 

 MỘT PHÁC THẢO MỞ

 Về công trình nghiên cứu, phê bình của GS Phong Lê: Phác thảo của phác thảo, nửa thế kỉ văn học Việt Nam trong hoà bình – đổi mới và hội nhập (1975 – 2025), xuất bản năm 2024, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.


                             

                     

   Lê Hồ Quang

Chỉ cần nhìn qua danh mục các công trình nghiên cứu (bao gồm hơn 30 tác phẩm in riêng và chủ biên), có thể thấy gần như cả cuộc đời nghiên cứu của GS Phong Lê gắn liền với văn học Việt Nam hiện đại. Các công trình nghiên cứu, phê bình của ông tập trung vào hai hướng chính: a) khảo sát các khuynh hướng vận động, các vấn đề, hiện tượng văn học nhằm nhận diện và khái quát các quy luật, đặc trưng của văn học; b) nghiên cứu các tác giả văn học nổi bật, gắn liền với từng thời kì, giai đoạn văn học, qua các tác giả tiêu biểu để xác định diện mạo và đóng góp của các giai đoạn, thời kì văn học. Bám sát tiến trình và hiện tượng văn học, đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng với hoàn cảnh chính trị, văn hoá – xã hội phát sinh để cắt nghĩa và lí giải, các tác phẩm nghiên cứu, phê bình của ông thường đem lại cái nhìn mang tính toàn cảnh, bao quát và hệ thống về đối tượng nghiên cứu. Điều này cũng thể hiện rõ trong công trình mới nhất của ông bàn về văn học Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay.