THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO
(Về thơ Trần Hạ
Vi)
Lê Hồ Quang
Tôi biết
gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?
Đây là
thông tin căn bản mà tôi có:
Trần Hạ
Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc. Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao
học và Tiến sĩ (PhD) ngành Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang
định cư tại Canada. Phó Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova
Scotia.
Tác phẩm
đã xuất bản: Lật tung miền kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội
Nhà văn, 2020; Phiến Hạ (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].
Trên Facebook
(FB) cá nhân [2],
thông tin tác giả chia sẻ đem lại cho chúng ta một hình dung tương đối thống
nhất về con người và cuộc đời chị: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống
gia đình viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ, một cô con gái nhỏ xinh xắn…
Những bài viết trên FB và một số Website văn học nghệ thuật trong thời gian gần
đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Nguyễn Yến Ngọc: sự mở rộng của mối
quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời sống văn hóa, xã hội, chính
trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ; tính cách bộc trực, thẳng
thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và thảo
luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.
Tuy
nhiên, trên FB của mình, bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi (đặt
theo họ mẹ) chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả
là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và tập
thứ tư (?) dự kiến là Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng
có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải
nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ
tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử
ngoài đời – tác giả, nhà giáo Nguyễn Yến Ngọc, chân dung của tác giả Trần Hạ Vi
trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua
hành động và quá trình sáng tạo.
Ý thức
tự kiến tạo [3] trong
thơ được tôi hiểu như sau:
- Thơ
là một cách để tác giả “kiến tạo và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội
tâm của chủ thể – đồng thời định hình căn tính tinh thần của mình trong diễn
ngôn thẩm mĩ.
-
Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo qua thơ/ bằng thơ và vận động,
biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định, bất biến.
- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.
Đề tài
chủ âm trong thơ Trần Hạ Vi là tình yêu lứa đôi. Nhân vật trữ tình là nữ, thường
sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, là em. Khác với từ
我 (Wǒ/ tôi) trong tiếng Trung hoặc
I trong tiếng Anh, từ “em” tự nó đã bộc lộ sắc thái thứ yếu, phối thuộc. Hạ Vi
là một bút danh có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa phổ biến nhất, “nên thơ” nhất là đóa
tường vi mùa hạ. Nó cũng có hàm ý chỉ tính chất nhỏ bé, tinh tế của đối tượng.
Em, trong các sáng tác này, thường bộc lộ mình trong tâm/ tư thế trữ tình quen
thuộc: giàu tâm sự và xúc cảm, luôn vị tha và hy sinh, chân thành và say đắm
trong tình yêu… Trong tập Phiến Hạ, ảnh tác giả in trên
trang bìa với mái tóc dài, mặc áo dài trắng, ôm tập thơ Vi. Tập thơ
sử dụng kiểu chữ mềm mại với nền giấy in chìm hình hoa phượng. Có thể nói, từ
hình ảnh đến ngôn ngữ, và hình thức trình bày, tất cả đều thống nhất với mô
hình diễn ngôn điển hình của thơ nữ và nữ tính.
Tuy
nhiên, khi quan sát sâu hơn, sẽ thấy thơ Hạ Vi không dừng lại ở kiểu "phục
trang cho bản ngã" quen thuộc. Quan niệm tình yêu, trong thơ tác
giả này, thể hiện khá rõ sự đối lập, thậm chí thách thức với những quan niệm
mang tính chuẩn tắc, kinh điển truyền thống về gia đình, tình yêu, người tình…
Một mặt, tác giả có một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc, chị không ngại chia sẻ những
khoảnh khắc riêng tư và sự ủng hộ của chồng với những sáng tác tình yêu của chị.
Mặt khác, chị công khai viết về những cảm xúc thân mật, say đắm với những người tình thơ của mình. Họ có tên hoặc không tên, thuộc quá khứ hoặc hiện tại, trong các mối quan hệ đời thực hoặc mạng xã hội. Họ có thể là một "anh yêu" cụ thể nhưng cũng có thể là vô số sắc thái, bản dạng đàn ông khác nhau sau danh xưng phổ biến ấy. Trong thái độ nhẹ nhõm, pha sắc thái hài hước này, có thể thấy
sự hiện diện của tinh thần nữ quyền luận: quyền được có thể cùng lúc yêu chồng
và yêu cả những người đàn ông không phải là chồng (đây rõ ràng là một tình huống
chống lại tinh thần nam quyền luận điển hình); quyền được nói ra xúc cảm một
cách thành thật, thẳng thắn, hồn nhiên, không kiêng dè, ở những tình huống vốn
bị xem là khác thường trong xã hội nam quyền thống trị; quyền được quan sát và trửng
giỡn với những cảm xúc của mình mà không bóp méo nó vì những định kiến giới; và
trên tất cả, là quyền được hạnh phúc theo cách mình nghĩ, mình muốn. (Tất
nhiên, cần hiểu đây là một diễn ngôn thơ ca chứ không phải là một diễn ngôn đạo
đức. Tác giả ý thức khá rõ ràng về hệ giá trị và sự khác biệt giữa thế giới thực,
tồn tại trong đời sống và thế giới ảo, được sáng tạo trong thơ). Tình yêu, như
vậy, không chỉ là một trạng thái cảm xúc. Tình yêu là một tư tưởng, một thái độ
sống tự do, mạnh mẽ:
Tôi
yêu như là tôi sống
Tôi
yêu như là tôi nói
Tôi là
một trái tim tự do
Một
trái tim tự do
Tôi là
(Tôi
là một trái tim tự do)
Từ điểm
nhìn quy chiếu này, ta sẽ dần thấy sự khác biệt trong cách tác giả nói về cảm
xúc hay thân thể. Thực tế là, trong thơ nữ Việt Nam đương đại, ý thức thân
thể của tôi, cảm xúc của tôi, lựa chọn của tôi đã xuất hiện trong sáng tác
của không ít tác giả, chẳng hạn như Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vi Thùy
Linh,…
Vậy
đâu là sự khác biệt của thơ Trần Hạ Vi?
Trong
thơ Hạ Vi, diễn ngôn tình yêu ấy có hai mặt, một mặt mang diện mạo truyền thống,
ở đó, người đàn ông luôn ở vị trí trung tâm:
- Đừng
cười nàng quan tâm những điều nhỏ nhặt
Nàng
là đàn bà
Và điều
nàng quan tâm nhất
Là anh
(Câu chuyện của
nàng)
- Tình nhân ơi
Tên em trên môi anh dòng ngọt
ngào chảy mật
Ta rúc vào nhau
cơn cuồng si hổn hển ngắn dài
quên áo cơm đời chật vật
(Tình nhân ơi)
Sự
nồng nàn, say đắm, mãnh liệt này thực ra rất quen. Ta có thể thấy màu sắc yêu
đương này từ trong thơ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cho đến nhiều nhà thơ
hiện đại về sau. Nhưng khi Hạ Vi viết:
Nếu
Annie Ernaux có thể viết
Những câu chuyện đời
mình
Giọng
văn khô khan sắc lạnh
Và
được giải Nobel Văn chương
Thì
tại sao nàng không được quyền
Viết
câu chuyện của anh và nàng
Tất
nhiên
Theo
cách nàng tưởng tượng
(Câu chuyện của nàng)
Khi
đó, diễn ngôn tình yêu của chủ thể Hạ Vi mới thực sự xuất hiện. Xuất hiện một
tâm thế và tư cách yêu/ viết khác, khác với truyền thống và với chính mình, trước
đó. Cái tôi trữ tình không phải là kẻ bị động mà chính là kẻ chủ động lên ý tưởng
cho các tình huống của trái tim. Đó cũng là lúc nhân vật trữ tình thoát vai, từ
EM sang TÔI, giành quyền điều khiển cuộc chơi cảm xúc theo cách mình muốn.
Có thể thấy cái tôi trữ tình nhận thức rất rõ về vị trí, giá trị của
mình, và do đó, thừa tự tin để cho phép mình thử nghiệm đến tận độ những cung bậc
trạng thái của tình yêu (nói một cách hình ảnh là cắn ngập răng vào quả táo cấm,
với tất cả sự tò mò thơ trẻ của Eva thuở sơ) đồng thời luôn giữ một tinh thần
quan sát tỉnh táo, không ít hài hước về chính mình và đối tượng. (Trong trường
hợp này, tôi nghĩ, có khi chính các đối tượng trữ tình mới cần phải tỉnh táo
hơn!). Xét cho cùng, đích cuối của tiến trình này không chỉ nhằm trút xả, giãi
bày nội tâm mà còn để tìm kiếm, phát hiện ra những tình huống, xúc cảm mới (tất nhiên, cũng “theo cách nàng tưởng
tượng”), trên cơ sở đó, xác định và phát triển bản ngã sáng tạo của người
viết.
Đó
cũng là lúc điểm nhìn trữ tình và cấu trúc thơ Trần Hạ Vi xoay trục. Thay vì động
thái trữ tình mềm yếu mang tính truyền thống quen thuộc: chỉ cần cho em dựa
vào lòng anh/ vài giây phút thôi/ một cái ôm cũng là đủ (Hạ thương) là
một động thái trữ tình kiểu khác, thản nhiên giải ảo, giải mộng, chứa không ít
yếu tố bông lơn, hài hước: Em quyết định chọn anh/ làm đối tượng nghiên cứu/
một năm/ hai năm/ nhiều năm/ cả đời
(Luận án tình yêu), Người ta nấu meth để bán/ em nấu ma túy để
xài/ xào trộn chữ thêm ướt át một vài/ nước mắt/ thấm đẫm hương yêu phơ phất/ hạ
vi hóa đa đề/ đa đề hóa hạ vi (Ma túy của hạ vi)… Mâu thuẫn giữa tư
cách phát ngôn của chủ thể (qua nhân vật trữ tình em - nhu mì, hồn nhiên, ngây
thơ, say đắm v.v.) với tâm thế và cảm thức sáng tạo chi phối (chủ động, tỉnh
táo, tinh quái và nhiều khi, thẳng thừng một cách khá… tàn nhẫn) tạo nên sự vận
động nội tại và độ căng thẩm mĩ trong cấu trúc thơ Trần Hạ Vi.
Bài Tự
thơ sau đây là một ví dụ.
Tự
trái mận có bài thơ
Nhưng
bài thơ không phải là trái mận
Tự anh
có em
Nhưng
em không thuộc về anh
Tự đau
thương có hạnh phúc
Tự chiến
tranh có hòa bình
Loại
người loay hoay
Hủy diệt
và xây dựng
Cái tốt
và cái xấu
Con
chó trầm cảm
Tự con
mèo xù lông
Xét từ
văn bản, Tự thơ có cấu trúc chặt chẽ, lời thơ ngắn gọn, tổ chức
dựa trên quy tắc song hành, trùng điệp và đối lập. Điều này khiến có ý tưởng
ban đầu (tự thơ, có thể hiểu là xuất phát từ thơ, vì thơ, do thơ…) liên
tục được mở rộng nghĩa và lan tỏa sóng liên tưởng tới nhiều lớp nghĩa khác như
tình yêu, chiến tranh, đau thương, hạnh phúc và vô số phạm trù đạo đức, triết học
lớn lao khác. Nhưng cũng trên cấu trúc văn bản, tất cả những giá trị cao quý lớn
lao, có ảnh hưởng tầm nhân loại ấy lại bắt đầu chỉ từ một… quả mận. Và sau tất
cả, câu chuyện thơ khép lại bởi một hình ảnh không thể ngộ nghĩnh hơn: chuyện của
chó và mèo. Hóa ra, khởi thủy của thế giới chẳng qua là bắt đầu từ chuyện tự
con mèo xù lông. Không có gì quan trọng mà thực ra tất cả đều quan trọng, đều
có thể “có vấn đề”. Nhưng vấn đề như thế nào, phức tạp đến đâu, còn tùy thuộc
vào cách thức và góc độ mà độc giả tiếp cận.
Trong
thơ Trần Hạ Vi, tinh thần nữ quyền chủ yếu thể hiện trong thái độ và cách ứng xử của tác giả đối với đề tài, đối tượng. Tinh thần, thái độ ấy thường đi cùng giọng điệu thản
nhiên, hài hước, đôi khi tưng tửng. Không lớn tiếng nhưng không dễ lấn át. Và bởi
thế, nó thú vị.
Nhưng đấy
là nhìn trên tổ chức tổng thể, trong mối quan hệ chi phối từ cảm thức sáng tạo
đến cách xử lí đề tài, hình tượng, giọng điệu… Quan sát gần hơn, trong thơ Hạ
Vi, tỉ lệ bài viết thuần giọng, nghiêng về nội dung giãi bày nỗi lòng riêng tư xuất
hiện khá nhiều. Nhân vật trữ tình chìm đắm trong việc trút xả nội tâm và hướng
tới thiết lập mối quan hệ đồng cảm nhanh chóng với người đọc (đây là thói quen
trữ tình của nhiều tác giả, đặc biệt là tác giả nữ). Vì thế, diện mạo mạnh mẽ,
độc đáo của cái tôi chủ thể bị chìm lấp. Dường như có một sự giằng co vô thức
giữa một bên là nhu cầu bộc bạch nội tâm, nỗi sợ hãi định kiến và một bên là ý
thức khẳng định, sáng tạo bản ngã trong thơ của Trần Hạ Vi, thể hiện khá rõ
trong tập Phiến Hạ.
Tất nhiên, cũng có thể việc khẳng định tinh thần, tư tưởng
nữ quyền không phải mục tiêu của tác giả. Trong một bài thơ, chị viết: Câu
chuyện của nàng bình thường/ Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới/
Chỉ có tình yêu tình yêu/ Và những vật vã (Câu chuyện của nàng). Tôi hiểu
đây là một cách nói mang tính thơ ca, nhằm nhấn mạnh tính tuyệt đối vô tư trong
xúc cảm tình yêu lứa đôi chứ không loại trừ chủ đề bình đẳng giới hay vấn đề nữ
quyền. Nhưng có thể đây chính là điểm nghẽn trong tư tưởng thơ Trần Hạ Vi, xuất
phát từ một bên là sự trì níu của quan niệm truyền thống và một bên là khát
vọng tự giải phóng. Nếu tác giả ý thức về mâu thuẫn này một cách triệt để hơn,
trong tư cách xuất phát điểm về mặt tư tưởng, thẩm mĩ, chắc chắn sẽ có những
thay đổi quan trọng trong cảm thức, nội dung cũng như bút pháp.
Bước
vào thế giới thơ của Hạ Vi giống như bước vào một lễ hội hóa trang (carnival), ở
đó, ta tạm đặt sang một bên thông tin về nhân thân, tiểu sử và thói quen đối
chiếu văn và người theo cách đọc truyền thống, để chấp nhận những mặt nạ hóa
trang của em như một trò chơi thú vị, đồng thời có khả năng lột bỏ, bóc
tách em và anh sâu hơn, sắc sảo, tỉnh táo hơn, như thể mở một “căn
phòng bí mật có nhiều cánh cửa/ Mở khóa một lần/ lại thêm cửa bên trong”, hoặc
giả, như một củ hành “chiều nay/ cởi thêm một lớp/ làm mắt em cay”… Việc
tác giả nhắc tên đối tượng trữ tình một cách phiếm chỉ, lấp lửng, gây tò mò đồng
thời cũng đặt ra một tình thế phân tích, đối thoại ngầm, trong đó, mỗi chủ thể
luôn phải tự nhắc mình về vị trí thật sự của bản thân trong mạng lưới xã hội -
thơ rộng lớn, đầy phức tạp này. Bài thơ Yêu đến chữ Z là một tình huống
khá khôi hài. Kết thúc một tình yêu (trên) mạng, ai cũng thương, ai cũng chép
miệng cảm thông. Mà ai cũng hào hứng. Các chất liệu trữ tình (tình huống, đối
tượng khơi nguồn cảm hứng, chia sẻ của bạn bè…) được huy động từ đời thực và mạng
xã hội (có vẻ) là thật, cảm xúc thơ (yêu, thất tình, đau khổ,… có vẻ cũng) là
thật. Nhưng khi vào thơ, chúng được tái tạo và tổ chức lại, để trở thành một
tình huống trữ tình khác với thông thường, làm bật ra những sắc thái trữ tình
phi truyền thống: thất tình mà… vui, mà náo nhiệt!
Thực
ra đấy là một cấu trúc trữ tình mang tính quy ước: những nồng nàn say đắm, yêu
đương chan chứa ấy là trong thơ, của thơ. Bước vào trong cánh cửa đó là thế giới
thơ. Bước ra ngoài cánh cửa đó là đời thực. Độc giả cần hiểu được những quy ước
và giới hạn của vấn đề trước khi cất tiếng nói đánh giá, phán xét về thế giới
thơ cũng như cái tôi được kiến tạo trong thế giới ấy.
Tất
nhiên, nói đấy là trò chơi - thơ không có nghĩa là những xúc cảm trong thơ Hạ
Vi không chân thật, ngược lại, có thể nói chủ thể người viết/ người chơi thơ ở
đây thực sự đã đắm mình trong “cõi mê tình” (và điều này khiến chị viết nên những
bài thơ hay, giàu xúc cảm, ví dụ Có và không, Tự thơ, Tôi là một trái tim tự
do…). Tình yêu ở đây được kiến tạo trong thơ như một cấu trúc có tính hoàn
chỉnh tự thân với tất cả mọi biểu hiện của tình yêu lứa đôi điển hình, giữa em
và anh, đồng thời nó cũng luôn bị/ được “giải cấu trúc” bởi tinh thần
trò chơi này. Ta có thể bị cuốn theo mọi cung bậc tình yêu, đời sống mà vẫn
không quên những quy tắc đã được thiết lập. Đấy là điểm rất thú vị.
Với
Trần Hạ Vi, thơ là một trò chơi nghiêm túc. Bởi mục tiêu nó hướng đến, như đã
nói trên, không phải chỉ để chia sẻ tình cảm, sáng tác hoặc giải trí, mà sâu xa
hơn, còn để tạo dựng bản ngã. Bản ngã ấy mang tính lưỡng cực. Một bên là người
đàn bà đang yêu đầy say đắm, còn bên kia là người phụ nữ thông minh, tỉnh táo, luôn
biết tự thiết kế trò chơi cho trái tim mình, để cuộc đời luôn phong phú, nhiều
sắc màu mà vẫn luôn trong vòng kiểm soát. Đấy không phải một chân dung đơn giản,
dễ nắm bắt, mà đa diện, giàu năng lượng biến đổi.
Quan sát từ tập đầu tay – Lục tung miền kí ức, đến Vi và
gần đây nhất – Phiến Hạ, có thể thấy khá rõ ý thức vận động của người
viết. Từ lối viết bản năng, khá vụng về ban đầu, càng ngày ý thức về cách
viết và bản sắc cá nhân trong thơ Trần Hạ Vi càng rõ nét. Gần đây, tác giả cũng
tìm kiếm, thử nghiệm nhiều hướng, trên cả đề tài (tình yêu, gia đình, nghệ thuật, chiến tranh, tôn giáo, đời sống thế sự, chính trị…) lẫn hình thức thể loại (một
số viết theo thể tự do, một số viết theo thể lục bát…). Tuy nhiên, khi gồng lên
hoặc sa vào tuyên ngôn, thơ có nguy cơ mất giọng, thứ giọng đã tạo nên chân
dung riêng của chị: hồn nhiên mà tinh quái, khiêu khích mà ngây thơ, ngọt ngào
mà cứng rắn, nữ tính mà không yếu mềm, không dễ qua mặt… Các phần trong tập Phiến
Hạ cho thấy ý thức cấu trúc của tác giả nhưng vẫn để lộ ra dấu vết của
sự tập hợp, ghép nối. Dường như có một sự mâu thuẫn nội tại mà tác giả chưa xử
lí được. Bởi vậy, bên cạnh những bài thể hiện rõ tư tưởng sáng tạo khá phóng
khoáng, lối diễn đạt mộc, sát nghĩa, sát với tinh thần hiện đại mà nó chuyển tải,
nhiều bài vẫn đem lại một không khí cổ điển khá tù đọng, mòn sáo với lớp từ vựng “giàu
tính thơ” cũ kĩ như hạ thương, nhan sắc phấn hường, yên an, sân si muộn
phiền,… Tôi nghĩ trong sáng tạo, không nhất thiết phải gắng cho trọn vẹn,
đầy đủ. Sự an toàn thường dẫn tới lối mòn và lặp lại. Chính sự khuyết thiếu, bất
ổn, thậm chí phi lí, trong nhiều trường hợp, cho thấy sự không thỏa hiệp của
người viết với sức ì tư duy và sự chuyển động cần thiết của tiến trình nhận thức
thẩm mĩ. Nhưng vấn đề không chỉ là việc mở rộng đề tài hay đa dạng hóa thể thơ. Vấn đề là phải hướng đến việc xây dựng một cấu trúc thơ vừa đảm bảo
tính chặt chẽ nội tại mà vẫn mang tính vận động.
Hạ
Vi sống, làm việc và làm thơ trong môi trường quốc tế và toàn cầu hóa. Thơ chị (và
nhiều tác giả hiện đại khác) được hấp thụ, nuôi dưỡng và phát triển bởi
internet, mạng xã hội và ứng dụng công nghệ. Khúc hát tình yêu chữ (tên
một bài thơ của Hạ Vi) chính là được hình thành trên “màn hình iPhone” với
những khả năng kết nối tình yêu, tình dục mà thế hệ trước đó không thể hình dung nổi: Em không phải AI/ Khi em chết
đi thơ sẽ biến thành AI/ Sex với anh mỗi ngày (Sex và AI). Tuy vậy,
chưa bao giờ con người lại cảm thấy sự tồn tại cùng sức/ sự sáng tạo của mình bị
đe dọa đến thế trước sức mạnh ngày càng áp đảo của công nghệ tối tân. Câu hỏi “Màn
hình iPhone của anh bao lớn/ Màn hình iphone của em bao lớn/ trái tim của chúng
ta/ Dành cho nhau/ Bao lâu” có lẽ không chỉ là câu hỏi đặt ra cho thơ và cảm
xúc tình yêu. Nó còn thể hiện nỗi bất an hiện sinh sâu sắc của con người trước
nguy cơ bị tái định nghĩa bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Những
câu hỏi hàm chứa nỗi hoang mang và bất an ấy đã bộc lộ bản chất tâm hồn
người sáng tạo. Nó không phải là một đường phát triển thẳng đứng hay một kết quả
trọn vẹn, hoàn tất, mà là một tiến trình vận động nội tại với nhiều loay hoay,
vật vã, trăn trở. Đó có lẽ cũng là những dấu hiệu “người” hơn cả, trong bối cảnh
đời sống ngày một bị siết chặt hơn bởi các sản phẩm hoàn hảo, không tì vết của
trí tuệ máy móc. Dù ý thức sâu sắc về những nguy cơ của kỉ nguyên số
và cuộc cách mạng AI, Trần Hạ Vi vẫn giữ được một niềm tin đáng ngạc nhiên vào
tình yêu, thơ ca và sự viết. Với cảm thức, tư duy và tâm thế ấy, hành trình kiến
tạo bản ngã bằng thơ, qua thơ của chị chắc sẽ còn thay đổi. Và sẽ khác đi một
cách cần thiết.
Vinh, 19/2/2026
L.H.Q
[1] Thông
tin trên trang bìa của tập Phiến hạ, Nxb Hội Nhà văn, 2024.
[2] https://www.facebook.com/havidethuong18, https://www.facebook.com/tranhavi0512, https://www.facebook.com/thotranhavi
[3] Ý
tưởng bài viết này được gợi ý từ cuốn sách của tác giả Costica Bradatan. Xin
xem thêm Costica Bradatan (2017), Chết cho tư tưởng, cuộc đời nguy hiểm
của các triết gia, Trần Ngọc Hiếu dịch, Nxb Nhã Nam:
- Dưới hình thức này hay
khác, ý tưởng rằng bản ngã không phải là cái gì có sẵn, mà là một cái gì đó
chúng ta kiến tạo và tái kiến tạo, đã trở thành một thành tố quan trọng trong sự
tự trình hiện (self-representation) của chúng ta. (trang 41)
- Điểm quan trọng ở hai trường
hợp – sáng tạo bản ngã và sáng tạo văn chương- là việc trở thành bản ngã này
hay bản ngã kia, thực chất là một tiến trình không ngừng vận động; tính
cách của con người hay nhân vật văn chương đều không phải là cái gì có sẵn,
hoàn tất; cả hai đều là kết quả của một quá trình phục trang, cân nhắc, phóng
chiếu phức tạp. Bởi hầu hết chúng ta đều muốn có một bản ngã “đẹp”. (trang
43-44)
- Bản ngã của một tác giả
thường là cái gì đó được tạo lập song song với quá trình sáng tạo của mình. Cả
hai hoạt động này không hoàn toàn tách biệt, chúng đều nằm trong một quá trình
cấu hình đời sống hiện sinh rộng lớn hơn, chúng là những bình thông nhau. Những
bản ngã mà tôi tạo dựng trong văn chương theo những cách mà không phải lúc nào
tôi cũng ý thức được. Đến lượt mình, bản ngã của chính tôi lại không thể không
bị tác động bởi những bản ngã văn chương mà tôi tạo hình. Quan điểm này dẫn đến
một hệ luận là, ở một mức độ nào đó, có một sự tương đồng, dù chỉ là tinh vi và
sâu kín, giữa một bên là tác phẩm hư cấu và một bên là phẩm chất, nhân cách, và
thế giới quan của tác giả. Điều này không nhất thiết là do nhà văn lấy cảm hứng
từ tiểu sử của bản thân, mà vì tự ông ta đã là kết quả “sáng tạo” của chính
mình: ông ta là một nhân vật, một bản ngã được tạo nên, cũng như những con người
sống trong các tác phẩm của ông mà thôi. (trang 44-45)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét