THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO
(Về thơ Trần Hạ
Vi)
Lê Hồ Quang
Tôi biết gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?
Đây là thông tin căn bản mà tôi có:
Trần Hạ Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc.
Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao học và Tiến sĩ (PhD) ngành
Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang định cư tại Canada. Phó
Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova Scotia
Tác phẩm đã xuất bản: Lật tung miền
kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2020; Phiến Hạ
(thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].
Trên Facebook (FB) cá nhân, tác giả thi
thoảng cập nhật, chia sẻ một số thông tin, hình ảnh về bản thân và gia đình.
Chúng cho tôi hình dung về con người tác giả ngoài đời: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống gia đình đủ đầy, viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ
và một cô con gái nhỏ xinh xắn… Những bài viết trên FB và một số Website văn học
nghệ thuật trong thời gian gần đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Trần
Yến Ngọc: sự mở rộng của mối quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời
sống văn hóa, xã hội, chính trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ;
tính cách bộc trực, thẳng thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và
thảo luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.
Tuy nhiên, trên FB của mình [2], bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và dự kiến tập thứ tư (?) là Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử ngoài đời – tác giả Trần Yến Ngọc, chân dung của Trần Hạ Vi trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua hành động và quá trình sáng tạo.
Ý thức tự kiến tạo [3] trong thơ Trần Hạ Vi được tôi hiểu như sau:
- Thơ là một cách để tác giả “kiến tạo
và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội tâm của chủ thể – đồng thời định
hình căn tính tinh thần của mình trong diễn ngôn thẩm mĩ.
- Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo
qua thơ/ bằng thơ và vận động, biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định,
bất biến.
- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.
Đề tài chủ âm trong thơ Trần Hạ Vi là tình yêu lứa đôi. Nhân vật trữ tình là nữ, thường sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, là em. Khác với từ 我 (Wǒ/ tôi) trong tiếng Trung hoặc I trong tiếng Anh, từ “em” tự nó đã bộc lộ sắc thái thứ yếu, phối thuộc. Hạ Vi là một bút danh có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa phổ biến nhất, “nên thơ” nhất là đóa tường vi mùa hạ. Nó cũng có hàm ý chỉ tính chất nhỏ bé, tinh tế của đối tượng. Em, trong các sáng tác này, thường bộc lộ mình trong tâm/ tư thế trữ tình quen thuộc: giàu tâm sự và xúc cảm, luôn vị tha và hy sinh, không ngại bộc lộ trang thái "lụy tình" yếu đuối và đắm say… Trong tập Phiến Hạ, ảnh tác giả in trên trang bìa với mái tóc dài, mặc áo dài trắng, ôm tập thơ Vi. Tập thơ sử dụng kiểu chữ mềm mại với nền giấy in chìm hình hoa phượng. Có thể nói, từ hình ảnh đến ngôn ngữ, và hình thức trình bày, tất cả đều thống nhất với mô hình diễn ngôn điển hình của thơ nữ và nữ tính.
Tuy nhiên, khi quan sát sâu hơn, sẽ thấy thơ Hạ Vi không dừng lại ở kiểu "phục trang cho bản ngã" quen thuộc đó. Quan niệm tình yêu, trong thơ tác giả này, thể hiện khá rõ sự đối lập, thậm chí thách thức với những quan niệm mang tính chuẩn tắc, kinh điển truyền thống về gia đình, tình yêu, người tình… Một mặt, tác giả có một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc, chị không ngại chia sẻ những khoảnh khắc riêng tư và sự ủng hộ của người chồng với những sáng tác tình yêu của chị. Mặt khác, trong thơ, chị thoải mái viết về những cảm xúc thân mật, say đắm của mình với “anh T”, “anh C”. “anh D”, và cả anh T* (mà không phải là T)… (Yêu đến chữ Z). Trong thái độ nhẹ nhõm, pha sắc thái hài hước này, có thể thấy sự hiện diện của tinh thần nữ quyền luận: quyền được có thể cùng lúc yêu chồng và yêu cả những người đàn ông không phải là chồng (đây rõ ràng là một tình huống chống lại tinh thần nam quyền luận điển hình); quyền được nói ra xúc cảm một cách thành thật, thẳng thắn, hồn nhiên, không kiêng dè, ở những tình huống vốn bị xem là khác thường trong xã hội nam quyền thống trị; quyền được quan sát và trửng giỡn với những cảm xúc của mình mà không bóp méo nó vì những định kiến giới; và trên tất cả, là quyền được hạnh phúc theo cách mình nghĩ, mình muốn. Tất nhiên, cần hiểu đây là một diễn ngôn thơ ca chứ không phải là một diễn ngôn đạo đức. Tác giả ý thức rất rõ ràng về hệ giá trị và sự khác biệt giữa thế giới thực, tồn tại trong đời sống và thế giới ảo, được sáng tạo trong thơ. Tình yêu, như vậy không chỉ là một trạng thái cảm xúc. Tình yêu là một tư tưởng, một thái độ sống tự do, mạnh mẽ:
Tôi yêu như là tôi sống
Tôi yêu như là tôi nói
Tôi là một trái tim tự do
Một trái tim tự do
Tôi là
(Tôi là một trái tim tự do)
Từ điểm nhìn quy chiếu này, ta sẽ thấy sự khác biệt trong cách tác giả nói về cảm xúc hay cảm giác thân thể. Thực tế là, trong thơ nữ Việt Nam đương đại, ý thức thân thể của tôi, cảm xúc của tôi, lựa chọn của tôi đã xuất hiện trong sáng tác của không ít tác giả, chẳng hạn như Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vi Thùy Linh,…
Vậy đâu là sự khác biệt của thơ Trần Hạ
Vi?
Trong thơ Hạ Vi, diễn ngôn tình yêu ấy
có hai mặt, một mặt mang diện mạo truyền thống, ở đó, người đàn ông luôn ở vị
trí trung tâm:
- Đừng cười nàng quan tâm những điều
nhỏ nhặt
Nàng là đàn bà
Và điều nàng quan tâm nhất
Là anh
(Câu
chuyện của nàng)
- Tình nhân ơi
Tên em trên môi anh dòng ngọt ngào chảy mật
Ta rúc vào nhau
cơn cuồng si hổn hển ngắn dài
quên áo cơm đời chật vật
(Tình nhân ơi)
Sự nồng nàn,
say đắm, mãnh liệt này thực ra rất quen. Ta có thể thấy màu sắc yêu đương này từ
trong thơ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cho đến nhiều nhà thơ hiện đại về
sau. Nhưng khi Hạ Vi viết:
Nếu Annie
Ernaux có thể viết
Những câu chuyện đời
mình
Giọng văn
khô khan sắc lạnh
Và được giải
Nobel Văn chương
Thì tại
sao nàng không được quyền
Viết câu
chuyện của anh và nàng
Tất nhiên
Theo cách
nàng tưởng tượng
(Câu chuyện của nàng)
Thì khi đó, diễn ngôn tình yêu đích thực
của chủ thể đã hiện diện. Xuất hiện một tâm thế và tư cách yêu/ viết khác, khác với truyền thống và với chính mình, trước đó. Cái tôi trữ tình không phải là kẻ bị động mà chính là kẻ chủ động lên ý tưởng cho các tình huống của trái tim. Đó cũng là lúc nhân vật trữ
tình thoát vai, từ EM sang TÔI, giành quyền điều khiển cuộc chơi cảm xúc theo cách mình muốn.
Có thể thấy cái tôi trữ tình nhận thức rất rõ về vị
trí, giá trị của mình, và do đó, thừa tự tin để cho phép mình thử nghiệm đến tận
độ những cung bậc trạng thái của tình yêu (nói một cách hình ảnh là cắn ngập
răng vào quả táo cấm, với tất cả sự tò mò thơ trẻ của Eva thuở sơ) đồng thời
luôn giữ một tinh thần quan sát tỉnh táo, không ít hài hước về chính mình và đối tượng.
(Trong trường hợp này, tôi nghĩ, có khi chính các đối tượng trữ tình mới cần phải tỉnh táo hơn!). Xét cho cùng, đích cuối của tiến trình này không chỉ nhằm trút xả, giãi bày nội tâm mà còn để tìm kiếm, phát hiện ra những tình huống,
xúc cảm thơ mới (tất nhiên, cũng “theo cách nàng tưởng tượng”), trên cơ
sở đó, xác định và phát triển bản ngã sáng tạo của người viết.
Đó cũng là lúc điểm nhìn trữ tình và cấu trúc thơ Trần Hạ Vi xoay trục. Thay vì động thái trữ tình mềm yếu mang tính truyền thống quen thuộc: chỉ cần cho em dựa vào lòng anh/vài giây phút thôi/ một cái ôm cũng là đủ (Hạ thương) là một động thái trữ tình kiểu khác, thản nhiên giải ảo, giải mộng, chứa không ít yếu tố bông lơn, hài hước: Em quyết định chọn anh/ làm đối tượng nghiên cứu/ một năm/hai năm/nhiều năm/ cả đời (Luận án tình yêu), Người ta nấu meth để bán/ em nấu ma túy để xài/ xào trộn chữ thêm ướt át một vài/ nước mắt/ thấm đẫm hương yêu phơ phất/ hạ vi hóa đa đề/ đa đề hóa hạ vi (Ma túy của hạ vi)… Mâu thuẫn giữa tư cách phát ngôn của chủ thể (qua nhân vật trữ tình em - nhu mì, hồn nhiên, ngây thơ, say đắm v.v.) với tâm thế và cảm thức sáng tạo chi phối (chủ động, tỉnh táo, tinh quái và nhiều khi, thẳng thừng một cách khá... tàn nhẫn) tạo nên sự vận động nội tại và độ căng thẩm mĩ trong cấu trúc thơ Trần Hạ Vi.
Bài Tự thơ sau đây là một ví dụ.
Tự trái mận có bài thơ
Nhưng bài thơ không phải là trái mận
Tự anh có em
Nhưng em không thuộc về anh
Tự đau thương có hạnh phúc
Tự chiến tranh có hòa bình
Loại người loay hoay
Hủy diệt và xây dựng
Cái tốt và cái xấu
Con chó trầm cảm
Tự con mèo xù lông
Xét từ văn bản, Tự thơ có cấu
trúc chặt chẽ, lời thơ ngắn gọn, tổ chức dựa trên quy tắc song hành, trùng điệp
và đối lập. Điều này khiến có ý tưởng ban đầu (tự thơ, có thể hiểu là xuất
phát từ thơ, vì thơ, do thơ…) liên tục được mở rộng nghĩa và lan tỏa sóng liên
tưởng tới nhiều lớp nghĩa khác như tình yêu, chiến tranh, đau thương, hạnh phúc
và vô số phạm trù đạo đức, triết học lớn lao khác. Nhưng cũng trên cấu trúc văn
bản, tất cả những giá trị cao quý lớn lao ấy, có ảnh hưởng tầm nhân loại ấy lại
bắt đầu chỉ từ một… quả mận. Và sau tất cả, câu chuyện thơ khép lại bởi một
hình ảnh không thể ngộ nghĩnh hơn: chuyện của chó và mèo. Hóa ra, khởi thủy của
thế giới chẳng qua là bắt đầu từ chuyện tự con mèo xù lông. Không có gì
quan trọng mà thực ra tất cả đều quan trọng, đều có thể “có vấn đề”. Và vấn đề còn tùy thuộc vào cách/ góc mà anh tiếp cận. Nhưng sao lại là quả mận chứ không phải là một thứ
quả khác, giàu tính biểu tượng văn hóa hơn, ví dụ quả táo của Eva? Câu hỏi buộc tôi phải tìm mối liên hệ. Hình ảnh quả mận có lẽ khởi nguồn từ thơ của Nguyễn Đức Tùng (người được tác giả đề tặng). Đấy là một bài
Haiku chỉ ba câu: Chia nhau trái mận chín/ Một nửa của anh/ Chim ăn một nửa…
Mạch liên tưởng đẩy tôi tới một bài khác, rất thú vị trong tập Phiến hạ - Yêu đến
chữ Z. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Bởi rất tự nhiên, quả mận của Nguyễn Đức
Tùng khiến tôi nghĩ ngay đến một bài thơ tươi tắn khác, cũng về mận, của W. C.
Williams (Nguyễn Đức Tùng đã viết một tiểu luận về tác giả và bài thơ này): Anh
đã ăn/ những trái mận/ ở trong/ hộp đá lạnh/…/ Thứ lỗi cho anh/
chúng thơm ngon quá/ ngọt quá trời/ mà lạnh nữa (Ghi mấy chữ).... Từ đây, ý nghĩa của Tự thơ được mở rộng một cách tự nhiên. Dường như nó còn nói về khởi nguồn của thơ ca, cũng là khởi nguồn của
tình đời, tình thơ và muôn mối liên hệ ràng buộc vô tình mà hữu ý, nối kết tất
cả với nhau trong thế giới này... Đây là ví dụ đơn giản cho thấy mỗi
văn bản thơ luôn nằm trong một mạng lưới liên văn bản. Ý nghĩa của bài thơ, như
vậy, phải đâu chỉ tồn tại trong một tổ chức khép kín? Tự thơ là một cấu
trúc mở, có khả năng kiến tạo nhiều lớp ý nghĩa và sắc thái trữ tình.
Trong thơ Trần Hạ Vi, tinh thần nữ quyền
nằm trong cách sống, cách ứng xử và thái độ tác giả với đề tài và đối tượng chứ
không phải bằng/ qua các tuyên ngôn ồn ào, trực diện. Nó cũng không thể hiện
thông qua những ám chỉ hay phô bày thân thể một cách sống sượng, lộ liễu. Tinh
thần, thái độ ấy thường đi cùng với giọng điệu thản nhiên, đôi khi tưng tửng,
hài hước. Không lớn tiếng nhưng không dễ lấn át. Và bởi thế, nó thú vị.
Nhưng đấy là khi nhìn trên tổ chức tổng
thể, trong mối quan hệ chi phối từ tâm thế, cảm thức sáng tạo đến cách xử lí đề
tài, hình tượng, giọng điệu… Còn khi nhìn gần hơn, tỉ lệ bài thuần giọng nói về
những tình cảm đau khổ, buồn thương của nhân vật trữ tình khá nhiều. Trong những
bài này, cái tôi chìm đắm vào việc tỏ bày cảm xúc riêng tư, cá nhân (vốn là thói
quen trữ tình của nhiều tác giả, đặc biệt là tác giả nữ), và vì thế, tôi không
thấy được cái diện mạo tinh thần mạnh mẽ, độc đáo của chị. Dường như có một sự
giằng co vô thức giữa một bên là nhu cầu bộc bạch nội tâm và một bên là ý thức
khẳng định, sáng tạo bản ngã trong thơ của Trần Hạ Vi, thể hiện khá rõ trong tập
Phiến Hạ.
Tất nhiên, cũng có thể việc khẳng định tinh thần, tư
tưởng nữ quyền không phải mục tiêu của tác giả. Trong một bài thơ, chị viết:
Câu chuyện của nàng bình thường/ Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng
giới/ Chỉ có tình yêu tình yêu/ Và những vật vã (Câu chuyện của nàng). Tôi
hiểu đây là một cách nói mang tính thơ ca, nhằm nhấn mạnh tính tuyệt đối vô tư
trong xúc cảm tình yêu lứa đôi. Nó không hoàn toàn loại trừ chủ đề bình đẳng giới
hay vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu tác giả ý thức về điều này một cách triệt để hơn
trong tư cách một điểm tựa tư tưởng, thẩm mĩ, chắc chắn nó sẽ tạo nên những thay
đổi quan trọng trong cảm thức, nội dung cũng như bút pháp.
Bước vào thế
giới thơ của Hạ Vi giống như bước vào một lễ hội hóa trang (carnival), ở đó, ta tạm đặt sang một bên thông tin về nhân thân, tiểu sử và thói quen đối chiếu văn và người
theo cách đọc truyền thống, để chấp nhận những mặt nạ hóa trang của em như một trò chơi thú vị, đồng thời có khả năng lột bỏ, bóc tách em và anh sâu
hơn, sắc sảo, tỉnh táo hơn, như thể mở một “căn phòng bí mật có nhiều cánh cửa/
Mở khóa một lần/lại thêm cửa bên trong”, hoặc giả, như một củ hành “chiều
nay/ cởi thêm một lớp/ làm mắt em cay”… Tên đối tượng trữ tình trong thơ Hạ
Vi thường được viết tắt hoặc nhắc lướt. Việc tác giả công khai/ bán công khai các
thông tin này tạo nên mối quan hệ liên văn bản lấp lửng, thú vị, gây tò mò đồng
thời cũng tạo nên một tình thế phân tích, đối thoại ngầm mà trong đó, mỗi chủ
thể luôn phải tự nhắc mình về vị trí thật sự của bản thân trong mạng lưới xã hội - thơ rộng lớn và phức tạp này.
Em yêu một người đàn ông tên T
Thất tình em khóc
Ba ngày
Bạn bè đông khuyên giải
Anh C
Anh Đ
Anh T* (mà không phải là T)
Anh T* bảo bỏ đi trái táo sâu ăn nhiều
người liếm
Anh C bảo hãy giống anh chỉ nói yêu
để làm thơ
chớ trong lòng không bao giờ cảm lạnh
…
Em thấy không làng văn nghệ
những con người sừng sỏ
Điên khùng
Ngổ ngáo hay đạo mạo
Chạy không thoát chữ tình
Chém cha cái kiếp nhân sinh
Không hứng lên thì lấy gì mà viết
(Yêu đến chữ Z)
Bài thơ là một
tình huống khá khôi hài: nhân vật trữ tình (là em) thất tình bởi một chàng thơ,
một anh tên T và các chàng thơ khác (có vô số tên C, Đ, T dấu hoa thị, tức
không phải anh T kia (!) v.v.) lập tức xuất hiện để an ủi. Thời buổi
công nghệ hiện đại, việc an ủi nhau trên mạng xã hội cũng nhanh chóng, thuận tiện.
Nên kết thúc một tình yêu, ai cũng thương, ai cũng chép miệng cảm thông. Mà ai
cũng hào hứng. Các chất liệu trữ tình (tình huống, đối tượng khơi nguồn cảm hứng,
cách nhìn khác nhau từ bạn bè…) được tái tạo từ đời thực và mạng xã hội, (có vẻ)
là thật, cảm xúc thơ (yêu, thất tình, đau khổ,… có vẻ cũng) là thật. Khi đưa vào thơ,
chúng được tái tạo và tổ chức lại, để trở thành một tình huống trữ tình khác với
thông thường, làm bật ra những sắc thái trữ tình phi truyền thống: thất tình
mà… vui, mà náo nhiệt!
Thực ra đấy
là một cấu trúc trữ tình mang tính quy ước: những nồng nàn say đắm, yêu đương
chan chứa ấy là trong thơ, của thơ. Bước vào cánh cửa đó là thế giới thơ. Bước
ra cánh cửa đó là đời thực. Độc giả cần hiểu được những quy ước và giới hạn của
vấn đề trước khi cất tiếng nói đánh giá, phán xét về thế giới thơ cũng như cái
tôi được kiến tạo trong thế giới ấy.
Tất nhiên,
nói trò chơi thơ với tính quy ước không có nghĩa là những xúc cảm trong thơ Hạ
Vi không chân thật, ngược lại, có thể nói chủ thể người viết/ người chơi thơ ở
đây thực sự đã đắm mình trong “cõi mê tình” (và điều này đã cho ra đời nhiều
bài thơ hay, giàu xúc cảm, ví dụ Có và không, Tự thơ, Tôi là một trái tim tự do…). Tình yêu ở
đây được kiến tạo trong thơ như một cấu trúc có tính hoàn chỉnh tự thân với tất
cả mọi biểu hiện của tình yêu lứa đôi điển hình, giữa em và anh, đồng thời nó
cũng luôn bị/ được “giải cấu trúc” bởi tinh thần trò chơi này. Ta có thể bị cuốn
theo mọi cung bậc tình yêu, đời sống mà vẫn không quên những quy tắc đã được
thiết lập. Đây là điểm rất thú vị trong thơ Trần Hạ Vi.
Tuy nhiên, nếu nói thơ là
trò chơi thì với Hạ Vi, đấy là một trò chơi nghiêm túc. Bởi mục tiêu nó hướng đến,
như đã nói trên, không phải chỉ để chia sẻ tình cảm, sáng tác hoặc giải trí, mà
sâu xa hơn, còn để tạo dựng bản ngã. Bản ngã ấy mang tính lưỡng cực.
Một bên là người đàn bà đang yêu đầy say đắm, còn bên kia là người phụ nữ thông minh, tỉnh táo, luôn biết tự thiết kế trò chơi cho trái tim
mình, để cuộc đời luôn phong phú, nhiều sắc màu mà vẫn luôn trong vòng kiểm
soát. Đấy không phải một chân dung đơn nhất, dễ nắm bắt, mà đa diện, giàu năng
lượng biến đổi.
Quan sát từ tập
đầu tay – Lục tung miền kí ức, đến Vi và gần đây nhất – Phiến
Hạ, ta có thể thấy khá rõ ý thức vận động của người viết. Từ cách viết hồn nhiên, cảm tính ban đầu, càng ngày ý thức về cách viết và bản sắc cá nhân trong thơ Trần Hạ Vi càng rõ nét. Gần đây, tác giả cũng đang tìm kiếm, thử nghiệm nhiều hướng, trên cả đề tài (tình
yêu, gia đình, cái tôi, chiến tranh, tôn giáo, đời sống thế sự, chính trị…) lẫn
hình thức thể loại (một số viết theo thể tự do, một số viết theo thể lục bát…).
Tuy nhiên, khi gồng lên hoặc sa vào tuyên ngôn, thơ sẽ có nguy cơ mất
giọng, thứ giọng đã tạo nên chân dung riêng của chị: hồn nhiên mà tinh quái,
khiêu khích mà ngây thơ, ngọt ngào mà cứng rắn, nữ tính mà không yếu mềm, không
dễ qua mặt… Các phần trong tập Phiến Hạ cho thấy ý thức cấu trúc của tác
giả nhưng vẫn để lộ ra dấu vết của sự tập hợp, ghép nối. Dường như có một sự mâu
thuẫn nội tại mà tác giả chưa xử lí được. Bởi vậy, bên cạnh những bài thể hiện
rõ tư tưởng sáng tạo khá phóng khoáng, lối diễn đạt mộc, sát nghĩa, sát với
tinh thần hiện đại mà nó chuyển tải, nhiều bài vẫn đem lại một không khí cổ điển
khá tù đọng với lớp từ vựng “giàu tính thơ” cũ kĩ như hạ thương, nhan sắc phấn
hường, yên an, sân si muộn phiền… Vấn đề không chỉ là mở rộng đề tài hay viết
theo những thể thơ khác nhau. Có lẽ vấn đề nằm ở việc phải hướng đến một cấu trúc
thơ vừa đảm bảo tính chặt chẽ nội tại mà vẫn mang tính vận động.
Hạ Vi sống, làm việc và làm thơ trong môi trường quốc tế và toàn cầu hóa. Thơ chị (và nhiều tác giả hiện đại khác) được hấp thụ, nuôi dưỡng và phát triển bởi internet, mạng xã hội và ứng dụng công nghệ. Khúc hát tình yêu chữ (tên một bài thơ của Hạ Vi) chính là được hình thành trên “màn hình iPhone” và sự kết nối của internet. AI cũng mở ra những khả năng kết nối trong tình yêu và tình dục mà thế hệ sống trước đó không thể nào hình dung nổi: Em không phải AI/ Khi em chết đi thơ sẽ biến thành AI/ Sex với anh mỗi ngày (Sex và AI). Tuy vậy, chưa bao giờ con người lại cảm thấy sự tồn tại cùng sức/ sự sáng tạo của mình bị đe dọa đến thế trước sức mạnh ngày càng áp đảo của trí tuệ nhân tạo. Câu hỏi “Màn hình iPhone của anh bao lớn/ Màn hình iphone của em bao lớn/ trái tim của chúng ta/ Dành cho nhau/ Bao lâu” có lẽ không chỉ là câu hỏi đặt ra cho thơ và cảm xúc tình yêu. Nó còn thể hiện nỗi bất an hiện sinh sâu sắc của con người trước nguy cơ bị tái định nghĩa bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Những câu hỏi hàm chứa nỗi hoang mang và do dự, bất an ấy đã bộc lộ bản chất tâm hồn người sáng tạo. Nó không phải là một đường phát triển thẳng đứng hay một kết quả trọn vẹn, hoàn tất, mà là một tiến trình vận động nội tại với nhiều loay hoay, vật vã, trăn trở… Đó có lẽ cũng là những dấu hiệu “người” hơn cả, trong bối cảnh đời sống ngày một bị siết chặt hơn bởi các sản phẩm hoàn hảo, không tì vết của trí tuệ nhân tạo. Dù ý thức sâu sắc về những nguy cơ của kỉ nguyên số và cuộc cách mạng AI, Trần Hạ Vi vẫn giữ được một niềm tin đáng ngạc nhiên vào tình yêu, thơ ca và sự viết. Với cảm thức, tư duy và tâm thế ấy, hành trình kiến tạo bản ngã bằng thơ, qua thơ của chị chắc sẽ còn thay đổi. Và sẽ khác đi một cách cần thiết.
Vinh, 19/2/2026
L.H.Q
[1] Thông tin trên trang bìa của
tập Phiến hạ, Nxb Hội Nhà văn, 2024.
[2] https://www.facebook.com/havidethuong18,
https://www.facebook.com/tranhavi0512,
https://www.facebook.com/thotranhavi
[3] Ý
tưởng bài viết này được gợi ý từ cuốn sách của tác giả Costica Bradatan. Xin xem
thêm Costica Bradatan (2017), Chết cho tư tưởng, cuộc đời nguy hiểm của các
triết gia, Trần Ngọc Hiếu dịch, Nxb Nhã Nam:
- Dưới
hình thức này hay khác, ý tưởng rằng bản ngã không phải là cái gì có sẵn, mà là
một cái gì đó chúng ta kiến tạo và tái kiến tạo, đã trở thành một thành tố quan
trọng trong sự tự trình hiện (self-representation) của chúng ta. (trang 41)
- Điểm
quan trọng ở hai trường hợp – sáng tạo bản ngã và sáng tạo văn chương- là việc
trở thành bản ngã này hay bản ngã kia, thực chất là một tiến trình không ngừng
vận động; tính cách của con người hay nhân vật văn chương đều không phải là cái
gì có sẵn, hoàn tất; cả hai đều là kết quả của một quá trình phục trang, cân nhắc,
phóng chiếu phức tạp. Bởi hầu hết chúng ta đều muốn có một bản ngã “đẹp”.
(trang 43-44)
- Bản ngã
của một tác giả thường là cái gì đó được tạo lập song song với quá trình sáng tạo
của mình. Cả hai hoạt động này không hoàn toàn tách biệt, chúng đều nằm trong một
quá trình cấu hình đời sống hiện sinh rộng lớn hơn, chúng là những bình thông
nhau. Những bản ngã mà tôi tạo dựng trong văn chương theo những cách mà không
phải lúc nào tôi cũng ý thức được. Đến lượt mình, bản ngã của chính tôi lại
không thể không bị tác động bởi những bản ngã văn chương mà tôi tạo hình. Quan
điểm này dẫn đến một hệ luận là, ở một mức độ nào đó, có một sự tương đồng, dù
chỉ là tinh vi và sâu kín, giữa một bên là tác phẩm hư cấu và một bên là phẩm
chất, nhân cách, và thế giới quan của tác giả. Điều này không nhất thiết là do
nhà văn lấy cảm hứng từ tiểu sử của bản thân, mà vì tự ông ta đã là kết quả
“sáng tạo” của chính mình: ông ta là một nhân vật, một bản ngã được tạo nên,
cũng như những con người sống trong các tác phẩm của ông mà thôi. (trang 44-45)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét