Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Thơ Trần Hạ Vi

                THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO

                      (Về thơ Trần Hạ Vi)

                   

                                            


                                                

                                                                                                        Lê Hồ Quang

Tôi biết gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?

Đây là thông tin căn bản mà tôi có:

Trần Hạ Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc. Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao học và Tiến sĩ (PhD) ngành Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang định cư tại Canada. Phó Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova Scotia.

Tác phẩm đã xuất bản: Lật tung miền kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2020; Phiến Hạ (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].

Trên Facebook (FB) cá nhân [2], thông tin tác giả chia sẻ đem lại cho chúng ta một hình dung tương đối thống nhất về con người và cuộc đời chị: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống gia đình viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ, một cô con gái nhỏ xinh xắn… Những bài viết trên FB và một số Website văn học nghệ thuật trong thời gian gần đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Nguyễn Yến Ngọc: sự mở rộng của mối quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời sống văn hóa, xã hội, chính trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ; tính cách bộc trực, thẳng thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và thảo luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.

Tuy nhiên, trên FB của mình, bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi (đặt theo họ mẹ) chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và tập thứ tư (?) dự kiến là Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử ngoài đời – tác giả, nhà giáo Nguyễn Yến Ngọc, chân dung của tác giả Trần Hạ Vi trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua hành động và quá trình sáng tạo. 

Ý thức tự kiến tạo [3] trong thơ được tôi hiểu như sau:

- Thơ là một cách để tác giả “kiến tạo và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội tâm của chủ thể – đồng thời định hình căn tính tinh thần của mình trong diễn ngôn thẩm mĩ.

-  Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo qua thơ/ bằng thơ và vận động, biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định, bất biến.  

- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.  

Đề tài chủ âm trong thơ Trần Hạ Vi là tình yêu lứa đôi. Nhân vật trữ tình là nữ, thường sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, là em. Khác với  từ  我 (Wǒ/ tôi) trong tiếng Trung hoặc I trong tiếng Anh, từ “em” tự nó đã bộc lộ sắc thái thứ yếu, phối thuộc. Hạ Vi là một bút danh có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa phổ biến nhất, “nên thơ” nhất là đóa tường vi mùa hạ. Nó cũng có hàm ý chỉ tính chất nhỏ bé, tinh tế của đối tượng. Em, trong các sáng tác này, thường bộc lộ mình trong tâm/ tư thế trữ tình quen thuộc: giàu tâm sự và xúc cảm, luôn vị tha và hy sinh, chân thành và say đắm trong tình yêu… Trong tập Phiến Hạ, ảnh tác giả in trên trang bìa với mái tóc dài, mặc áo dài trắng, ôm tập thơ Vi. Tập thơ sử dụng kiểu chữ mềm mại với nền giấy in chìm hình hoa phượng. Có thể nói, từ hình ảnh đến ngôn ngữ, và hình thức trình bày, tất cả đều thống nhất với mô hình diễn ngôn điển hình của thơ nữ và nữ tính. 

Tuy nhiên, khi quan sát sâu hơn, sẽ thấy thơ Hạ Vi không dừng lại ở kiểu "phục trang cho bản ngã" quen thuộc. Quan niệm tình yêu, trong thơ tác giả này, thể hiện khá rõ sự đối lập, thậm chí thách thức với những quan niệm mang tính chuẩn tắc, kinh điển truyền thống về gia đình, tình yêu, người tình… Một mặt, tác giả có một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc, chị không ngại chia sẻ những khoảnh khắc riêng tư và sự ủng hộ của chồng với những sáng tác tình yêu của chị. Mặt khác, chị công khai viết về những cảm xúc thân mật, say đắm với những người tình thơ của mình. Họ có tên hoặc không tên, thuộc quá khứ hoặc hiện tại, trong các mối quan hệ đời thực hoặc mạng xã hội. Họ có thể là một "anh yêu" cụ thể nhưng cũng có thể là vô số sắc thái, bản dạng đàn ông khác nhau sau danh xưng phổ biến ấy. Trong thái độ nhẹ nhõm, pha sắc thái hài hước này, có thể thấy sự hiện diện của tinh thần nữ quyền luận: quyền được có thể cùng lúc yêu chồng và yêu cả những người đàn ông không phải là chồng (đây rõ ràng là một tình huống chống lại tinh thần nam quyền luận điển hình); quyền được nói ra xúc cảm một cách thành thật, thẳng thắn, hồn nhiên, không kiêng dè, ở những tình huống vốn bị xem là khác thường trong xã hội nam quyền thống trị; quyền được quan sát và trửng giỡn với những cảm xúc của mình mà không bóp méo nó vì những định kiến giới; và trên tất cả, là quyền được hạnh phúc theo cách mình  nghĩ, mình muốn. (Tất nhiên, cần hiểu đây là một diễn ngôn thơ ca chứ không phải là một diễn ngôn đạo đức. Tác giả ý thức khá rõ ràng về hệ giá trị và sự khác biệt giữa thế giới thực, tồn tại trong đời sống và thế giới ảo, được sáng tạo trong thơ). Tình yêu, như vậy, không chỉ là một trạng thái cảm xúc. Tình yêu là một tư tưởng, một thái độ sống tự do, mạnh mẽ:

Tôi yêu như là tôi sống

Tôi yêu như là tôi nói

 

Tôi là một trái tim tự do

Một trái tim tự do

Tôi là

             (Tôi là một trái tim tự do)

Từ điểm nhìn quy chiếu này, ta sẽ dần thấy sự khác biệt trong cách tác giả nói về cảm xúc hay thân thể. Thực tế là, trong thơ nữ Việt Nam đương đại, ý thức thân thể của tôi, cảm xúc của tôi, lựa chọn của tôi đã xuất hiện trong sáng tác của không ít tác giả, chẳng hạn như Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Vi Thùy Linh,…

Vậy đâu là sự khác biệt của thơ Trần Hạ Vi?

Trong thơ Hạ Vi, diễn ngôn tình yêu ấy có hai mặt, một mặt mang diện mạo truyền thống, ở đó, người đàn ông luôn ở vị trí trung tâm:

- Đừng cười nàng quan tâm những điều nhỏ nhặt

Nàng là đàn bà

Và điều nàng quan tâm nhất

Là anh

                            (Câu chuyện của nàng)

- Tình nhân ơi

Tên em trên môi anh dòng ngọt ngào chảy mật

Ta rúc vào nhau

cơn cuồng si hổn hển ngắn dài

quên áo cơm đời chật vật

                            (Tình nhân ơi)

Sự nồng nàn, say đắm, mãnh liệt này thực ra rất quen. Ta có thể thấy màu sắc yêu đương này từ trong thơ của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cho đến nhiều nhà thơ hiện đại về sau. Nhưng khi Hạ Vi viết:

Nếu Annie Ernaux có thể viết

                            Những câu chuyện đời mình

Giọng văn khô khan sắc lạnh

Và được giải Nobel Văn chương

Thì tại sao nàng không được quyền

Viết câu chuyện của anh và nàng

Tất nhiên

Theo cách nàng tưởng tượng

                  (Câu chuyện của nàng)

Khi đó, diễn ngôn tình yêu của chủ thể Hạ Vi mới thực sự xuất hiện. Xuất hiện một tâm thế và tư cách yêu/ viết khác, khác với truyền thống và với chính mình, trước đó. Cái tôi trữ tình không phải là kẻ bị động mà chính là kẻ chủ động lên ý tưởng cho các tình huống của trái tim. Đó cũng là lúc nhân vật trữ tình thoát vai, từ EM sang TÔI, giành quyền điều khiển cuộc chơi cảm xúc theo cách mình muốn. 

Có thể thấy cái tôi trữ tình nhận thức rất rõ về vị trí, giá trị của mình, và do đó, thừa tự tin để cho phép mình thử nghiệm đến tận độ những cung bậc trạng thái của tình yêu (nói một cách hình ảnh là cắn ngập răng vào quả táo cấm, với tất cả sự tò mò thơ trẻ của Eva thuở sơ) đồng thời luôn giữ một tinh thần quan sát tỉnh táo, không ít hài hước về chính mình và đối tượng. (Trong trường hợp này, tôi nghĩ, có khi chính các đối tượng trữ tình mới cần phải tỉnh táo hơn!). Xét cho cùng, đích cuối của tiến trình này không chỉ nhằm trút xả, giãi bày nội tâm mà còn để tìm kiếm, phát hiện ra những tình huống, xúc cảm  mới (tất nhiên, cũng “theo cách nàng tưởng tượng”), trên cơ sở đó, xác định và phát triển bản ngã sáng tạo của người viết.

Đó cũng là lúc điểm nhìn trữ tình và cấu trúc thơ Trần Hạ Vi xoay trục. Thay vì động thái trữ tình mềm yếu mang tính truyền thống quen thuộc: chỉ cần cho em dựa vào lòng anh/ vài giây phút thôi/ một cái ôm cũng là đủ (Hạ thương) là một động thái trữ tình kiểu khác, thản nhiên giải ảo, giải mộng, chứa không ít yếu tố bông lơn, hài hước: Em quyết định chọn anh/ làm đối tượng nghiên cứu/ một năm/ hai năm/ nhiều năm/ cả đời  (Luận án tình yêu), Người ta nấu meth để bán/ em nấu ma túy để xài/ xào trộn chữ thêm ướt át một vài/ nước mắt/ thấm đẫm hương yêu phơ phất/ hạ vi hóa đa đề/ đa đề hóa hạ vi (Ma túy của hạ vi)… Mâu thuẫn giữa tư cách phát ngôn của chủ thể (qua nhân vật trữ tình em - nhu mì, hồn nhiên, ngây thơ, say đắm v.v.) với tâm thế và cảm thức sáng tạo chi phối (chủ động, tỉnh táo, tinh quái và nhiều khi, thẳng thừng một cách khá… tàn nhẫn) tạo nên sự vận động nội tại và độ căng thẩm mĩ trong cấu trúc thơ Trần Hạ Vi.

Bài Tự thơ sau đây là một ví dụ.

Tự trái mận có bài thơ

Nhưng bài thơ không phải là trái mận

 

Tự anh có em

Nhưng em không thuộc về anh

 

Tự đau thương có hạnh phúc

Tự chiến tranh có hòa bình

 

Loại người loay hoay

Hủy diệt và xây dựng

Cái tốt và cái xấu

 

Con chó trầm cảm

Tự con mèo xù lông

Xét từ văn bản, Tự thơ có cấu trúc chặt chẽ, lời thơ ngắn gọn, tổ chức dựa trên quy tắc song hành, trùng điệp và đối lập. Điều này khiến có ý tưởng ban đầu (tự thơ, có thể hiểu là xuất phát từ thơ, vì thơ, do thơ…) liên tục được mở rộng nghĩa và lan tỏa sóng liên tưởng tới nhiều lớp nghĩa khác như tình yêu, chiến tranh, đau thương, hạnh phúc và vô số phạm trù đạo đức, triết học lớn lao khác. Nhưng cũng trên cấu trúc văn bản, tất cả những giá trị cao quý lớn lao, có ảnh hưởng tầm nhân loại ấy lại bắt đầu chỉ từ một… quả mận. Và sau tất cả, câu chuyện thơ khép lại bởi một hình ảnh không thể ngộ nghĩnh hơn: chuyện của chó và mèo. Hóa ra, khởi thủy của thế giới chẳng qua là bắt đầu từ chuyện tự con mèo xù lông. Không có gì quan trọng mà thực ra tất cả đều quan trọng, đều có thể “có vấn đề”. Nhưng vấn đề như thế nào, phức tạp đến đâu, còn tùy thuộc vào cách thức và góc độ mà độc giả tiếp cận.

Trong thơ Trần Hạ Vi, tinh thần nữ quyền chủ yếu thể hiện trong thái độ và cách ứng xử của tác giả đối với đề tài, đối tượng. Tinh thần, thái độ ấy thường đi cùng giọng điệu thản nhiên, hài hước, đôi khi tưng tửng. Không lớn tiếng nhưng không dễ lấn át. Và bởi thế, nó thú vị.

Nhưng đấy là nhìn trên tổ chức tổng thể, trong mối quan hệ chi phối từ cảm thức sáng tạo đến cách xử lí đề tài, hình tượng, giọng điệu… Quan sát gần hơn, trong thơ Hạ Vi, tỉ lệ bài viết thuần giọng, nghiêng về nội dung giãi bày nỗi lòng riêng tư xuất hiện khá nhiều. Nhân vật trữ tình chìm đắm trong việc trút xả nội tâm và hướng tới thiết lập mối quan hệ đồng cảm nhanh chóng với người đọc (đây là thói quen trữ tình của nhiều tác giả, đặc biệt là tác giả nữ). Vì thế, diện mạo mạnh mẽ, độc đáo của cái tôi chủ thể bị chìm lấp. Dường như có một sự giằng co vô thức giữa một bên là nhu cầu bộc bạch nội tâm, nỗi sợ hãi định kiến và một bên là ý thức khẳng định, sáng tạo bản ngã trong thơ của Trần Hạ Vi, thể hiện khá rõ trong tập Phiến Hạ.

Tất nhiên, cũng có thể việc khẳng định tinh thần, tư tưởng nữ quyền không phải mục tiêu của tác giả. Trong một bài thơ, chị viết: Câu chuyện của nàng bình thường/ Không có quan điểm về xã hội hay bình đẳng giới/ Chỉ có tình yêu tình yêu/ Và những vật vã (Câu chuyện của nàng). Tôi hiểu đây là một cách nói mang tính thơ ca, nhằm nhấn mạnh tính tuyệt đối vô tư trong xúc cảm tình yêu lứa đôi chứ không loại trừ chủ đề bình đẳng giới hay vấn đề nữ quyền. Nhưng có thể đây chính là điểm nghẽn trong tư tưởng thơ Trần Hạ Vi, xuất phát từ một bên là sự trì níu của quan niệm truyền thống và một bên là khát vọng tự giải phóng. Nếu tác giả ý thức về mâu thuẫn này một cách triệt để hơn, trong tư cách xuất phát điểm về mặt tư tưởng, thẩm mĩ, chắc chắn sẽ có những thay đổi quan trọng trong cảm thức, nội dung cũng như bút pháp.

Bước vào thế giới thơ của Hạ Vi giống như bước vào một lễ hội hóa trang (carnival), ở đó, ta tạm đặt sang một bên thông tin về nhân thân, tiểu sử và thói quen đối chiếu văn và người theo cách đọc truyền thống, để chấp nhận những mặt nạ hóa trang của em như một trò chơi thú vị, đồng thời có khả năng lột bỏ, bóc tách emanh sâu hơn, sắc sảo, tỉnh táo hơn, như thể mở một “căn phòng bí mật có nhiều cánh cửa/ Mở khóa một lần/ lại thêm cửa bên trong”, hoặc giả, như một củ hành “chiều nay/ cởi thêm một lớp/ làm mắt em cay”… Việc tác giả nhắc tên đối tượng trữ tình một cách phiếm chỉ, lấp lửng, gây tò mò đồng thời cũng đặt ra một tình thế phân tích, đối thoại ngầm, trong đó, mỗi chủ thể luôn phải tự nhắc mình về vị trí thật sự của bản thân trong mạng lưới xã hội - thơ rộng lớn, đầy phức tạp này. Bài thơ Yêu đến chữ Z là một tình huống khá khôi hài. Kết thúc một tình yêu (trên) mạng, ai cũng thương, ai cũng chép miệng cảm thông. Mà ai cũng hào hứng. Các chất liệu trữ tình (tình huống, đối tượng khơi nguồn cảm hứng, chia sẻ của bạn bè…) được huy động từ đời thực và mạng xã hội (có vẻ) là thật, cảm xúc thơ (yêu, thất tình, đau khổ,… có vẻ cũng) là thật. Nhưng khi vào thơ, chúng được tái tạo và tổ chức lại, để trở thành một tình huống trữ tình khác với thông thường, làm bật ra những sắc thái trữ tình phi truyền thống: thất tình mà… vui, mà náo nhiệt!

Thực ra đấy là một cấu trúc trữ tình mang tính quy ước: những nồng nàn say đắm, yêu đương chan chứa ấy là trong thơ, của thơ. Bước vào trong cánh cửa đó là thế giới thơ. Bước ra ngoài cánh cửa đó là đời thực. Độc giả cần hiểu được những quy ước và giới hạn của vấn đề trước khi cất tiếng nói đánh giá, phán xét về thế giới thơ cũng như cái tôi được kiến tạo trong thế giới ấy.

Tất nhiên, nói đấy là trò chơi - thơ không có nghĩa là những xúc cảm trong thơ Hạ Vi không chân thật, ngược lại, có thể nói chủ thể người viết/ người chơi thơ ở đây thực sự đã đắm mình trong “cõi mê tình” (và điều này khiến chị viết nên những bài thơ hay, giàu xúc cảm, ví dụ Có và không, Tự thơ, Tôi là một trái tim tự do…). Tình yêu ở đây được kiến tạo trong thơ như một cấu trúc có tính hoàn chỉnh tự thân với tất cả mọi biểu hiện của tình yêu lứa đôi điển hình, giữa emanh, đồng thời nó cũng luôn bị/ được “giải cấu trúc” bởi tinh thần trò chơi này. Ta có thể bị cuốn theo mọi cung bậc tình yêu, đời sống mà vẫn không quên những quy tắc đã được thiết lập. Đấy là điểm rất thú vị.

Với Trần Hạ Vi, thơ là một trò chơi nghiêm túc. Bởi mục tiêu nó hướng đến, như đã nói trên, không phải chỉ để chia sẻ tình cảm, sáng tác hoặc giải trí, mà sâu xa hơn, còn để tạo dựng bản ngã. Bản ngã ấy mang tính lưỡng cực. Một bên là người đàn bà đang yêu đầy say đắm, còn bên kia là người phụ nữ thông minh, tỉnh táo, luôn biết tự thiết kế trò chơi cho trái tim mình, để cuộc đời luôn phong phú, nhiều sắc màu mà vẫn luôn trong vòng kiểm soát. Đấy không phải một chân dung đơn giản, dễ nắm bắt, mà đa diện, giàu năng lượng biến đổi.

Quan sát từ tập đầu tay – Lục tung miền kí ức, đến Vi và gần đây nhất – Phiến Hạ, có thể thấy khá rõ ý thức vận động của người viết. Từ lối viết bản năng, khá vụng về ban đầu, càng ngày ý thức về cách viết và bản sắc cá nhân trong thơ Trần Hạ Vi càng rõ nét. Gần đây, tác giả cũng tìm kiếm, thử nghiệm nhiều hướng, trên cả đề tài (tình yêu, gia đình, nghệ thuật, chiến tranh, tôn giáo, đời sống thế sự, chính trị…) lẫn hình thức thể loại (một số viết theo thể tự do, một số viết theo thể lục bát…). Tuy nhiên, khi gồng lên hoặc sa vào tuyên ngôn, thơ có nguy cơ mất giọng, thứ giọng đã tạo nên chân dung riêng của chị: hồn nhiên mà tinh quái, khiêu khích mà ngây thơ, ngọt ngào mà cứng rắn, nữ tính mà không yếu mềm, không dễ qua mặt… Các phần trong tập Phiến Hạ cho thấy ý thức cấu trúc của tác giả nhưng vẫn để lộ ra dấu vết của sự tập hợp, ghép nối. Dường như có một sự mâu thuẫn nội tại mà tác giả chưa xử lí được. Bởi vậy, bên cạnh những bài thể hiện rõ tư tưởng sáng tạo khá phóng khoáng, lối diễn đạt mộc, sát nghĩa, sát với tinh thần hiện đại mà nó chuyển tải, nhiều bài vẫn đem lại một không khí cổ điển khá tù đọng, mòn sáo với lớp từ vựng “giàu tính thơ” cũ kĩ như hạ thương, nhan sắc phấn hường, yên an, sân si muộn phiền,… Tôi nghĩ trong sáng tạo, không nhất thiết phải gắng cho trọn vẹn, đầy đủ. Sự an toàn thường dẫn tới lối mòn và lặp lại. Chính sự khuyết thiếu, bất ổn, thậm chí phi lí, trong nhiều trường hợp, cho thấy sự không thỏa hiệp của người viết với sức ì tư duy và sự chuyển động cần thiết của tiến trình nhận thức thẩm mĩ. Nhưng vấn đề không chỉ là việc mở rộng đề tài hay đa dạng hóa thể thơ. Vấn đề là phải hướng đến việc xây dựng một cấu trúc thơ vừa đảm bảo tính chặt chẽ nội tại mà vẫn mang tính vận động.

Hạ Vi sống, làm việc và làm thơ trong môi trường quốc tế và toàn cầu hóa. Thơ chị (và nhiều tác giả hiện đại khác) được hấp thụ, nuôi dưỡng và phát triển bởi internet, mạng xã hội và ứng dụng công nghệ. Khúc hát tình yêu chữ (tên một bài thơ của Hạ Vi) chính là được hình thành trên “màn hình iPhone” với những khả năng kết nối tình yêu, tình dục mà thế hệ trước đó không thể  hình dung nổi: Em không phải AI/ Khi em chết đi thơ sẽ biến thành AI/ Sex với anh mỗi ngày (Sex và AI). Tuy vậy, chưa bao giờ con người lại cảm thấy sự tồn tại cùng sức/ sự sáng tạo của mình bị đe dọa đến thế trước sức mạnh ngày càng áp đảo của công nghệ tối tân. Câu hỏi “Màn hình iPhone của anh bao lớn/ Màn hình iphone của em bao lớn/ trái tim của chúng ta/ Dành cho nhau/ Bao lâu” có lẽ không chỉ là câu hỏi đặt ra cho thơ và cảm xúc tình yêu. Nó còn thể hiện nỗi bất an hiện sinh sâu sắc của con người trước nguy cơ bị tái định nghĩa bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo.

Những câu hỏi hàm chứa nỗi hoang mang và bất an ấy đã bộc lộ bản chất tâm hồn người sáng tạo. Nó không phải là một đường phát triển thẳng đứng hay một kết quả trọn vẹn, hoàn tất, mà là một tiến trình vận động nội tại với nhiều loay hoay, vật vã, trăn trở. Đó có lẽ cũng là những dấu hiệu “người” hơn cả, trong bối cảnh đời sống ngày một bị siết chặt hơn bởi các sản phẩm hoàn hảo, không tì vết của trí tuệ máy móc. Dù ý thức sâu sắc về những nguy cơ của kỉ nguyên số và cuộc cách mạng AI, Trần Hạ Vi vẫn giữ được một niềm tin đáng ngạc nhiên vào tình yêu, thơ ca và sự viết. Với cảm thức, tư duy và tâm thế ấy, hành trình kiến tạo bản ngã bằng thơ, qua thơ của chị chắc sẽ còn thay đổi. Và sẽ khác đi một cách cần thiết.

                                                                                Vinh, 19/2/2026

                                                                                          L.H.Q

                                                 



[1] Thông tin trên trang bìa của tập Phiến hạ, Nxb Hội Nhà văn, 2024.

[3] Ý tưởng bài viết này được gợi ý từ cuốn sách của tác giả Costica Bradatan. Xin xem thêm Costica Bradatan (2017), Chết cho tư tưởng, cuộc đời nguy hiểm của các triết gia, Trần Ngọc Hiếu dịch, Nxb Nhã Nam:

- Dưới hình thức này hay khác, ý tưởng rằng bản ngã không phải là cái gì có sẵn, mà là một cái gì đó chúng ta kiến tạo và tái kiến tạo, đã trở thành một thành tố quan trọng trong sự tự trình hiện (self-representation) của chúng ta. (trang 41)

- Điểm quan trọng ở hai trường hợp – sáng tạo bản ngã và sáng tạo văn chương- là việc trở thành bản ngã này hay bản ngã kia, thực chất là một tiến trình không ngừng vận động; tính cách của con người hay nhân vật văn chương đều không phải là cái gì có sẵn, hoàn tất; cả hai đều là kết quả của một quá trình phục trang, cân nhắc, phóng chiếu phức tạp. Bởi hầu hết chúng ta đều muốn có một bản ngã “đẹp”. (trang 43-44)

- Bản ngã của một tác giả thường là cái gì đó được tạo lập song song với quá trình sáng tạo của mình. Cả hai hoạt động này không hoàn toàn tách biệt, chúng đều nằm trong một quá trình cấu hình đời sống hiện sinh rộng lớn hơn, chúng là những bình thông nhau. Những bản ngã mà tôi tạo dựng trong văn chương theo những cách mà không phải lúc nào tôi cũng ý thức được. Đến lượt mình, bản ngã của chính tôi lại không thể không bị tác động bởi những bản ngã văn chương mà tôi tạo hình. Quan điểm này dẫn đến một hệ luận là, ở một mức độ nào đó, có một sự tương đồng, dù chỉ là tinh vi và sâu kín, giữa một bên là tác phẩm hư cấu và một bên là phẩm chất, nhân cách, và thế giới quan của tác giả. Điều này không nhất thiết là do nhà văn lấy cảm hứng từ tiểu sử của bản thân, mà vì tự ông ta đã là kết quả “sáng tạo” của chính mình: ông ta là một nhân vật, một bản ngã được tạo nên, cũng như những con người sống trong các tác phẩm của ông mà thôi. (trang 44-45)

 

 

          

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét