NỖI BUỒN CHIẾN TRANH
Lê
Hồ Quang
Lịch sử nhân loại, thật đáng buồn, cũng là lịch sử của nhiều cuộc chiến đẫm máu và điều đó còn tiếp diễn đến thời hiện tại. Chiến tranh, do đó, là một đề tài quen thuộc trong văn học nghệ thuật. Thế giới đã biết đến chiến tranh qua nhiều tác phẩm lừng lẫy: Iliad, Ôđixê – (Homer, Hy Lạp), Tam quốc diễn nghĩa – La Quán Trung, Đông chu liệt quốc – Phùng Mộng Long (Trung Quốc), Chiến tranh và hoà bình – Lev Tolstoy; Sông Đông êm đềm – Solokhov; Cuộc đời và số phận – Vasily Grossman (Nga), Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ – Svetlana Alexievich, Belarut, Giã từ vũ khí – (Hemingway, Mỹ), Phía tây không có gì lạ – Erich Maria Remarque (Đức),… và vô số tác phẩm khác. Chiến tranh cũng là một đề tài quen thuộc trong điện ảnh: Nghệ sĩ dương cầm (The Pianist) của đạo diễn Roman Polanski, Phía Tây không có gì lạ của đạo diễn Edward Berger; hội hoạ: Ngày 3 tháng 5 năm 1808 của Francisco Goya, Guernica của Pablo Picasso,…; và được khai thác, lí giải từ nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, chiến tranh mang lại chết chóc, huỷ diệt nhân tính và để lại những chấn thương kinh hoàng, dai dẳng trong đời sống con người, ngay cả khi nó đã kết thúc. Mặt khác, chiến tranh cũng là môi trường để thử thách và bồi đắp những giá trị tinh thần cao đẹp như lòng yêu nước, tình đồng đội, và ý thức bảo vệ nền hoà bình của quốc gia, dân tộc, nhân loại.
Trong văn học Việt Nam, ở giai đoạn đầu thế kỉ XX đến nay, nhìn chung, chủ đề chiến tranh thường gắn với tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và lí tưởng cách mạng. Tuy nhiên, trong văn học Việt Nam thời hậu chiến, tư duy và cách viết về chiến tranh (và nhiều chủ đề khác) đổi mới mạnh mẽ. Nỗi buồn chiến tranh là một minh chứng nổi bật. Trong tiểu thuyết này, chiến tranh được nhớ lại, suy ngẫm, phân tích, cảm nhận từ góc nhìn và trải nghiệm cá nhân; gắn với những ám ảnh chết chóc và mất mát đau thương, kinh hoàng. Bước ra khỏi cuộc chiến, Kiên đánh mất tất cả: tuổi trẻ, tình yêu, niềm hi vọng sống. Chiến tranh trở thành một ám ảnh bi kịch dai dẳng với nhân vật, nó “ngăn không cho anh cảm thấy một chút nhẹ lòng trong đời sống hiện tại. Ngày tháng của đời anh cứ lùi lại mãi”. Đó là, như người kể chuyện đã nhấn mạnh, “một cảnh ngộ trái khoáy, một sự bi quan bế tắc như ta thường nói, một đời sống tinh thần vô vọng”. Mặt khác, nỗi buồn chiến tranh, qua góc nhìn và cách viết của Bảo Ninh, đã được nhận thức lại và bộc lộ những phương diện giá trị mới, khác. Nó là sự kháng cự tinh thần mạnh mẽ của con người trước chết chóc và sự huỷ diệt. Nó là bằng chứng về sức mạnh của nhân tính trong mỗi con người. Đó là lí do Bảo Ninh nhận ra giá trị đặc biệt ở “nỗi buồn chiến tranh mênh mang, nỗi buồn cao cả, cao hơn hạnh phúc và vượt trên đau khổ”. Nỗi buồn chiến tranh đem lại một cái nhìn nhiều chiều, đa diện hơn về chiến tranh và người lính, đó là một đóng góp nghệ thuật giá trị, giàu tính nhân bản.
Hồi ức chiến tranh – trạng thái
tinh thần chấn thương của Kiên – cuốn tiểu thuyết Kiên để lại, cái này vừa là
nguyên nhân và là kết quả của cái kia, tuy ba nhưng lại là một. Thậm chí, có thể
nói đấy là ba “nhân vật” đặc biệt trong cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh. Kiên được miêu tả chủ yếu ở góc độ đời sống tinh thần. Đó là một con
người từng có tuổi trẻ, tình yêu thời thanh xuân trong sáng, đẹp đẽ. Nhưng tất
thảy đều đã bị guồng máy của chiến tranh nghiền nát. Ra khỏi cuộc chiến, trong
mắt những người xung quanh, anh chỉ là một “hiện tượng dị biệt, khó cắt nghĩa”,
“phản loạn, cực đoan song cực kì bạc nhược và cực kì do dự”, là một “nhân cách
lạc điệu”. Với một nội tâm “cô quạnh, âu
sầu”, Kiên chủ yếu sống trong quá khứ, sống bằng hồi ức. Hồi ức chiến tranh là
giày vò, hành hạ, đồng thời cũng là nơi anh nương níu, là nguồn cấp dưỡng cho đời
sống tinh thần héo úa, và biến nó thành một hình hài khác: cuốn tiểu thuyết về
chiến tranh, từ góc nhìn, góc trải nghiệm của riêng anh. Nhớ lại, với nhân vật
này, chính là sống và sống lại: “Có
vẻ như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là cuộc đời đã qua, là tuổi
trẻ đã mất đi trong nỗi đau buồn chiến tranh”.
Phần thứ nhất
của đoạn trích mô tả hồi ức chiến tranh của Kiên, trạng thái đời sống tinh thần
đầy thương tổn, mô tả đồng thời lí giải sự ra đời của cuốn tiểu thuyết. Yếu tố
ngoại cảnh góp phần làm cho kí ức chiến tranh sống dậy trong Kiên là “một đêm lạnh
giá”, “màn mưa mỏng”, “không khí xanh xám run rẩy”. Trong phút chốc, kí ức hãi
hùng “loé chớp”, và trận đánh ghê rợn đã xoá sổ tiểu đoàn 27 của anh hiển hiện
trước mắt, đẩy nhân vật vào trạng thái “hồn
phách xiêu lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn”. Kiên đã “viết
một mạch trọn vẹn với thần hứng không bao giờ còn có lại”. Cuốn tiểu thuyết đã ra đời từ đấy: từ
kí ức đau buồn về cuộc chiến đã qua, mà chính tác giả là người bước ra từ đó.
Quá trình phục hiện thế giới kí ức trong trích đoạn khá đặc biệt. Trập trùng tiếp
nối, đứt quãng, rực rỡ, sáng tươi sầu khổ,… Đó là một không gian tinh thần
“mênh mang”, “vượt khỏi tầm mắt, vươn tới cõi xa xăm bên ngoài biên giới của tư
duy, đạt đến cõi hoà đồng người sống và người chết, hạnh phúc và khổ đau, hồi ức
và ước mơ”. Trí nhớ và cả trí tưởng tượng đã cấu trúc nên thời gian và không
gian tinh thần của vùng hồi ức. Đó cũng là đặc thù tính chất của cuốn tiểu thuyết
mang chở dòng kí ức hỗn mang, sầu khổ ấy – “sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”.
Phần thứ hai
của trích đoạn trong SGK kể lại việc nhân vật người kể chuyện (có thể hiểu là
tác giả), đã cố gắng tập hợp, sắp xếp và đọc bản thảo mà Kiên để lại. Bản thảo
tiểu thuyết này có một số đặc điểm khá nổi bật như sau:
– Là
“một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”, thậm chí “điên rồ”. “Mạch
chuyện không ngừng đứt gãy”, mất bố cục, thiếu mạch lạc, thiếu bao quát.
– Từng
trang, từng đoạn có thể theo dõi được, khá cuốn hút. Những cận cảnh chiến trận thoáng lướt những đậm nét.
– Phải
chọn cách đọc “theo phương thức tuỳ nghi”.
– Hiệu
quả: Tác phẩm hiện lên theo một cấu trúc khác, trong sự hoà đồng với cuộc đời
thực. Cấu trúc ấy tương ứng với cấu trúc tinh thần của người viết và cảm hứng
hiện thực được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh. Chỉ cấu trúc ấy, bút pháp ấy mới thích hợp với
“cấu trúc” của dòng ý thức, vốn phi mạch
lạc, phi tuyến tính, hỗn loạn, ko thể kiểm soát. Nhưng đấy mới đích thực là tiếng
nói tinh thần bên trong của một con người bước ra khỏi cuộc chiến với tất cả
thương tổn, mất mát.
Nỗi
buồn chiến tranh đã thể hiện một tư duy và bút pháp
tiểu thuyết mang đậm tính hiện đại. Cuốn tiểu thuyết không chỉ nói về chiến
tranh mà nói về số phận con người, vĩnh viễn bị huỷ hoại bởi chiến tranh, những
cá nhân “dị biệt, khó cắt nghĩa”, “những nhân cách lạc điệu”. Để tái hiện lại
dòng chảy ý thức “dị biệt” đó, Bảo Ninh đã sử dụng khá nhiều thủ pháp hiện đại:
đồng hiện, dòng ý thức, lắp ghép, truyện trong truyện, sử dụng những người kể
chuyện, điểm nhìn, ngôi kể khác nhau,… Việc lắp ghép có vẻ ngẫu nhiên, lộn xộn
các đoạn hồi ức, hay sự chuyển tiếp từ mạch kể của Kiên sang mạch kể của người
kể chuyện (người đọc bản thảo tiểu thuyết của Kiên, có thể hiểu là tác giả),
thực chất cũng là một kĩ thuật viết nương theo dòng ý thức của nhân vật (vốn
không liền mạch, đứt quãng). Sử dụng thủ pháp truyện trong truyện, Bảo Ninh có
thể sử dụng cùng lúc, song hành hai người kể chuyện, và sự thay đổi, xoắn bện
điểm nhìn, ngôi kể,… Có thể nói, để tái hiện đời sống tinh thần đầy chấn động,
đau đớn và phức tạp của Kiên, cách viết phi tuyến tính, chồng xếp lẫn lộn các
bình diện không gian, thời gian, nương theo dòng tâm tư đầy nặng nề, u uất, rối
bời của nhân vật là một lựa chọn hợp lí. Việc lí giải thế giới nghệ thuật được
xây dựng bởi các kĩ thuật, thủ pháp viết đặc thù này chắc chắn sẽ là thách thức
không nhỏ với người đọc, đòi hỏi họ phải có sự am hiểu nhất định về tiểu thuyết
hiện đại. Trên hết, nó đòi hỏi một tinh thần đọc hiện đại và cởi mở, thái độ
sẵn sàng nhập cuộc vào thế giới sáng tạo của nhà văn, theo cách mà nhân vật
tôi, người kể chuyện, đã giao tiếp và ứng xử với cuốn tiểu thuyết của Kiên.
(trích, sách Học tốt môn Ngữ văn 12, bản cũ, lưu lại, 2025) 15/3/2026 L.H.Q

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét