Không khí, nhịp điệu và suy tưởng: đọc chậm truyện ngắn Ý Nhi
![]() |
Nhà thơ Ý Nhi |
Lê
Hồ Quang
Dù có trong tay bản thảo tập Con ngựa trên bãi biển đã khá lâu, phải sau nhiều lần đọc, tôi mới có thể bước vào thế giới truyện ngắn của Ý Nhi. Lí do có lẽ bởi vì rất khó để áp khung lí thuyết và các khái niệm công cụ tự sự quen thuộc để tiếp cận và lí giải cấu trúc nghệ thuật ấy. Ở đây, không phải đề tài, sự kiện hay nhân vật mà không khí, nhịp điệu và suy tưởng mới thực sự là linh hồn của truyện kể. Chúng kết nối và tác động chặt chẽ với nhau, tạo nên bầu không khí thẩm mĩ rất riêng nhưng không dễ định hình và khái quát hóa. Bởi vậy, ít nhất là với tôi, truyện ngắn Ý Nhi đòi hỏi một cách đọc tương thích: đi sâu vào cấu trúc chỉnh thể của văn bản, trong tiến trình trải nghiệm cụ thể ngôn từ, hình tượng.
Không
khí trong truyện ngắn của Ý Nhi được tạo nên bởi nhiều yếu tố: không gian, thời
gian, cảnh sắc, ngôn ngữ, sắc thái tâm lí… Không gian hoặc nhỏ hẹp (một căn
phòng lợp tôn, một khu chung cư cũ, một con hẻm nhỏ, một quán cà phê…) hoặc rộng
rãi nhưng mơ hồ, phiếm chỉ (một bãi biển, một sân ga, một hòn đảo…). Tính chất mơ
hồ này càng nổi rõ hơn khi tên địa danh được đặt một cách bất định như phố Y, hẻm
X, quán cà phê M… Khoảng cách không gian cũng có tính chủ quan hóa, có thể “co
giãn, tùy theo độ đậm nhạt của các mối quan hệ, tùy theo tình cảm của họ với
nhau” (Chiều). Đấy là không gian của hồi ức, của suy ngẫm, xúc cảm, hiển
nhiên không thể đo lường bằng thước đo vật lí.
Nhân vật trong truyện thường được gọi bằng các từ xưng hô phi cá thể hóa: ông, anh. Tên riêng có khi chỉ là những chữ viết tắt: T., M., K… Tôi nghĩ điều này là có chủ ý. Nó nhằm mục đích xóa mờ căn cước tiểu sử - xã hội để tập trung vào căn cước tâm hồn của con người. Trong các câu chuyện, nhân vật dường như “chỉ dành tất cả thời gian cho việc đi đi lại lại” (Dấu vết) giữa các không gian thực và ảo, quá khứ và hiện tại, hiện thực và mộng tưởng. Ví dụ, trong truyện Đường qua công viên, hành trình nhân vật chính đi qua mấy dãy phố để đến với quán cà phê quen thuộc, vốn chỉ vài bước chân, cũng là hành trình trải nghiệm lại những hồi ức, kỉ niệm của thời thanh xuân sôi nổi với cà phê, khói thuốc, sách vở của mấy chục năm về trước. Còn trong truyện Người đứng bên kia đường, chỉ trong một căn phòng hẹp, với cửa sổ mở nhìn sang bên kia đường, nhân vật đã có thể sống lại trong vô số những chiều kích không gian khác nhau gắn với hoài niệm, tình yêu, sự li tán, mất mát… Không gian thực tại và không gian nội tâm luôn đan cài, chuyển dịch. Có thể hình dung đấy như những chuyến phiêu du tinh thần mà sự thay đổi của không gian cho phép con người có cơ hội quan sát, nhận thức, trải nghiệm lại cuộc đời của chính mình, trong bối cảnh, góc nhìn tham chiếu khác.
Tương
tự, thời gian cũng có tính mơ hồ, bất định. Dù tác giả vẫn nhắc tới các mốc thời
gian cụ thể như sáng tinh mơ, gần trưa, nhá nhem tối, hoặc hai hôm
sau, 11 giờ kém 5, 12 giờ trưa… thì nó vẫn mang đặc tính của thời gian tâm
lí hơn là thời gian vật lí. Ở đó, quá khứ, hiện tại và tương lai có thể đồng hiện
trong cùng một thời điểm. Cuộc đời con người với nhiều biến cố thăng trầm có thể
được cô nén lại trong một vài câu chữ và ngược lại, một khoảnh khắc của hoài niệm,
của hồi ức dường như có thể giãn nở đến vô tận.
Trong
nhiều trang viết của Ý Nhi, dòng tồn tục (durée - H. Bergson) này hiện
diện một cách rất tự nhiên. Bởi dòng thời gian cũng là dòng nội tâm, là sự suy
tư không ngừng của con người về cuộc đời và chính mình:
“Ông
im lặng, đặt tay lên vai anh, đúng nơi người lạ mặt đã đặt và xoay người anh khỏi
mặt hồ vào hồi rạng sáng.
Ông
cũng đang xoay anh quay mặt khỏi một hư ảnh.
Ông
và cô gái đã vô tình khép lại trước anh một cánh cửa.
P.
đã ở bên kia, như cô đã ở bên kia dòng thác, trong giấc mơ của anh”.
(Hai
giờ sáng)
Hiện
thực đời sống của đất nước, chiến tranh và những biến cố lịch sử, chính trị tàn
khốc vẫn thấp thoáng hiện lên, tạo nên bối cảnh bề sâu cần thiết của câu chuyện.
Nhưng các sự kiện, biến cố chỉ là cớ để làm nảy sinh suy tưởng, chúng được gián
cách hóa, nhiều khi chỉ còn là ánh hồi quang từ nơi xa xôi hắt lại trong cõi nội
tâm cô độc và phiền muộn:
“K.
bảo, lầu 2 là nơi trú ngụ của những kẻ “chờ
Godot”.
Họ
ngồi đó với hai ly cà-phê đen, khi thì ồn ào những Andre Gide, Jacques Prevert,
Graham Greene, Nikos Kazantzaki, Kim Dung… và nhất là những Albert Camus, Jean
Paul Sartre, Andre Breton, Georges Perec, Franz Kafka… lúc thì im lặng nhìn xuống
dòng người đông đúc, vội vã, nhỏ bé dưới xa kia như nhìn vào một thế giới khác.
Nhưng
rồi, mọi sự đứt đoạn bất ngờ bởi chiến tranh, bởi những sự cố lớn, tàn khốc của
thời cuộc.
K.
ra đi, ông ở lại.”
(Đường
xuyên qua công viên)
Tương
ứng với không - thời gian nội tâm này, âm thanh, ánh sáng trong các câu chuyện thường
mờ nhạt, những tiếng động nhỏ, ngay cả những lời đối thoại dường như cũng được
hạ thấp giọng nhất, đôi khi như lời độc thoại: “Anh không rời mắt khỏi T. Cô vẫn
im lặng như một pho tượng. Tim anh thắt lại. Có thể nào chỉ là một giấc mơ” (Dấu
vết); “Anh không biết liệu dòng sông, khu làng, căn nhà nhỏ, và, cả ông già
nữa, có thật hiện hữu hay chỉ là một giấc chiêm bao ngắn ngủi khác của anh
trong cái ngày quá dài này” (Búp bê biết khóc)… Có thể nói, tất cả những
màu sắc mạnh, chói, những âm thanh ồn ào, gay gắt, qua màng lọc tối giản của chủ
thể, trở nên mơ hồ, nhẹ nhõm, phi thực. Tất cả đều được giảm cấp - màu sắc, âm
thanh, hoạt động. Tính từ và thán từ được tiết chế tối đa. Văn bản truyện thường
được chia tách thành các đoạn nhỏ, gồm nhiều câu văn ngắn nối tiếp, chú tâm vào
việc thuật sự, bao gồm cả sự việc của đời sống cùng sự nghĩ của
nhân vật. Cảm xúc không được bộc lộ trực tiếp qua tính từ hay thán từ, mà được
dồn nén trong nhịp điệu và cấu trúc câu. Sự cô nén trong ngôn từ và giọng điệu,
tự chúng, hàm chứa một không khí và nhịp điệu nội tâm đặc thù.
Về
nhịp điệu trần thuật, có thể thấy trong nhiều truyện ngắn của tập Con ngựa
trên bãi biển có sự kết hợp luân phiên giữa kể chuyện/ miêu tả/ bình luận/
suy tưởng… Giữa chúng thường xuất hiện các khoảng lặng, điểm dừng cố ý (ví dụ, trong
Chiều, khoảng lặng do phân tâm, nhãng ý: nhân vật đang trò chuyện bỗng
nhiên chìm vào suy tưởng…). Người kể cố tình làm mờ các biến cố, sự kiện và từ
khoảng cách đã được thiết lập, lặng lẽ quan sát, hồi cố, đối chiếu, ngẫm nghĩ. Mật
độ cũng như tốc độ, nhịp độ của các sự việc dường như đều được giảm nhẹ, hãm chậm.
Điều này tạo nên tiết tấu trần thuật chậm rãi, bình thản. Ví dụ trong trích đoạn
sau: “Ông bắt đầu cuộc trò chuyện bằng những lời thì thầm, không rõ nghĩa, như
chỉ nói với riêng mình. Nhưng gần như ngay lập tức ông nhận ra vẻ căng thẳng của
cô gái khi cô không ngừng xoay chiếc điện thoại của mình trên mặt bàn, xin lỗi
cháu, cháu đừng lo, chẳng có chi quan trọng, chẳng có chi to tát đâu, chỉ là,
bác vừa hiểu ra cái điệu đơn giản này, tưởng là hiển nhiên này…” (Chiều).
Ở đây, điểm nhìn bên ngoài của người kể toàn tri hòa vào điểm nhìn bên trong của
nhân vật. Sự quan sát đan cài vào sự phân tích. Lời kể xen lẫn vào lời đối thoại
(mà xét trong tương quan cuộc hội thoại, nó gần hơn với tính chất độc thoại).
Sự
đan cài giữa lời nói/ lời kể/ lời phân tích khá phổ biến trong văn xuôi Ý Nhi.
Tuy vậy, độ dài ngắn của các câu, vế câu hay tiết tấu, nhịp điệu của chúng không
bị gò ép. Giữa những câu, đoạn văn dài, dồn dập, mạch lạc có thể là những câu,
đoạn rời rạc, giống như lời thoại bị ngắt mạch, bỏ lửng. Cũng có khi những câu
văn xuống dòng liên tục, văn bản để lại khá nhiều khoảng trắng, tương ứng với sự
“nhảy cóc” gấp rút, liên tục của thời gian và các sự kiện được kể. Nếu nói một
cách sơ giản thì thực ra, nhịp điệu ấy có nguyên tắc riêng của nó. Đó không chỉ
là nhịp điệu ngôn ngữ hay câu văn. Đó là nhịp điệu của cảm xúc và ý thức. Nhịp
điệu ấy được tạo nên bởi điểm nhìn (nói chính xác là sự chuyển dịch từ điểm
nhìn bên ngoài vào điểm nhìn bên trong), chi phối nhịp cấu trúc tổng thể của
văn bản.
Bên
cạnh không khí và nhịp điệu, suy tưởng là một yếu tố, phương diện nghệ thuật hết
sức đặc biệt (nếu không nói là đặc biệt nhất) trong truyện ngắn Ý Nhi. Ở đây, ta
cần hiểu suy tưởng như một hình thức vận động của ý thức trong tự sự, được tổ
chức bằng trần thuật chứ không phải một ý niệm tư biện thuần túy. Nó vừa là đối
tượng, nội dung được mô tả, đồng thời, chính là hình thức thể hiện. Trong truyện
ngắn Ý Nhi, suy tưởng là tuyến nội dung song song với sự kiện, thậm chí có khi lấn
át sự kiện. Có nhiều nội dung suy tưởng, song điểm trung tâm quy tụ mọi đầu mối
suy tư là ý nghĩa sự tồn tại cá nhân trong mối quan hệ với đời sống và với chính
mình. Nhân vật có thể sống trong không gian thực tại xác định, nhỏ hẹp nhưng
dòng suy tưởng thì miên man, bất định, vô hạn. Nó có thể bắt đầu từ những
nguyên cớ rất nhỏ và nhiều khi, như chẳng hề liên quan: một tấm ảnh, một cơn
mưa, một con búp bê, một cái tên viết tắt… Suy tưởng chính là tầng sâu hiện thực
bên trong, và nói như nhà văn, đó là “cái tầng sâu nhất của tác phẩm, cái mảnh
vỡ dưới bề mặt tưởng như lành lặn của đời sống” và là “bằng cớ duy nhất”, “chứng
minh sự tồn tại tri giác” (Chiều) của cá nhân.
Trong
truyện Ý Nhi, con người nghĩ nhiều hơn là nói; suy tưởng
nhiều hơn hành động. Nói đúng hơn, ở đây, suy tưởng là một dạng thức hành
động đặc biệt. Nó không chỉ là phản ứng nhận thức, tâm lí mà là trạng thái
hiện sinh của cá nhân - “tôi suy tưởng vậy tôi tồn tại”. Điều này giải
thích vì sao suy tưởng diễn ra liên tục trong nội tâm nhân vật và trong truyện
kể, “như một sự thúc đẩy không thể lí giải” (Dấu vết).
Chân
dung con người suy tưởng này, theo tôi, có một số điểm rất đáng chú ý.
Thứ
nhất, đấy thường là người già hoặc đã có tuổi. Những trải nghiệm về cuộc đời với
không ít thăng trầm, biến cố do lịch sử hoặc thời cuộc chính trị (bộc lộ qua một
vài chi tiết trong truyện) đem lại cho họ cách sống e dè, kín đáo và thói quen lặng
lẽ quan sát, chiêm nghiệm về đời sống. Đó cũng là lí do giải thích vì sao họ sống
nhiều với hoài niệm, với hồi ức quá khứ hơn là những mộng tưởng tương lai. Trạng
thái tinh thần thường gặp ở những con người này là sự buồn bã, cô độc, cảm giác
bất lực, cảm giác khác biệt thế hệ… Ý thức về quỹ thời gian ít ỏi còn lại, sự
suy yếu về thể chất, nỗi âu lo của kẻ bị gạt bên lề thực tại… chính là khởi nguồn
của mạch độc thoại nội tâm nhiều khi rất miên man ở các nhân vật.
Thứ
hai, con người suy tưởng đồng thời cũng là con người quan sát, con người tự ý
thức. Không chỉ quan sát về người khác, nhân vật quan sát về sự tồn tại của
mình, sự nghĩ ngợi của chính mình, sự hiện diện của cá nhân mình trong mối quan
hệ với người khác. Ở đó, những trải nghiệm cá nhân riêng tư, dù trong quá khứ
hay hiện tại, luôn khiến ông/ anh ta ý thức sâu sắc hơn về sự khác biệt, lạc
lõng, thậm chí lệch chuẩn của mình giữa đời sống và những người xung quanh. Bị
thôi thúc bởi nhu cầu nhận thức và thấu hiểu (chứ không phải nhu cầu triết lí,
khái quát hóa) về đời sống và chính mình, thói quen quan sát (gắn với việc nhìn
và tự nhìn) trở thành nhu cầu tự thân của nhân vật:
-
Anh ngẩng đầu nhìn cô… Anh nhận ra ngày hôm nay anh đã để tâm nhiều đến
những đôi mắt của mọi người quanh mình.
(Búp bê biết khóc)
-
Bên kia đường, có kẻ nào đó đứng trong gió lạnh, nhìn về phía ông, vẻ
như chờ đợi giây phút ông mở tung hai cánh cửa. Trong thoáng chốc, ông nghĩ
mình vừa bắt gặp một ánh nhìn.
(Người đứng bên kia đường)
-
Ý nghĩ mình đang quan sát người khác từ phía sau khiến ông đỏ mặt vừa
khi ông có cảm giác người phụ nữ thoáng quay nhìn lại (…). Rồi ông nhìn
thấy, đúng hơn là cảm thấy, một bóng người vừa bước ra khỏi căn phòng biến
mất vào dòng người trên phố để lại sau lưng một khoảng không trong màn sáng mờ
đục”.
(Chiều)
Bằng
ý thức quan sát và phân tích/ tự phân tích, con người nhận ra những lằn ranh rất
mỏng nhưng rất khó để vượt qua giữa mình và người khác, giữa mình và chính
mình. Đây là điều mà Ý Nhi đã nói rất hay trong thơ: Đem cho và nhận về, kiếm
tìm và đánh mất/ Giản đơn và rối ren, lớn lao và cạn hẹp/ Tôi đứng kề bên giới
hạn của mình (Về Thái Nguyên)… Có điều, nếu trong thơ, những cảm
xúc, nhận thức ấy thường được dồn nén trong câu chữ, trong những khoảnh khắc
thì trong truyện, chúng được tãi rộng ra và được trình bày như một dòng chảy nội
tâm, suy tưởng.
Thứ
ba, có lẽ cũng không ngẫu nhiên mà kiểu nhân vật suy tưởng này thường hoạt động
trong lĩnh vực sáng tạo, nghiên cứu, là các văn nghệ sĩ, trí thức. Đó là người
họa sĩ trong Dấu vết, là nhà văn trong Con ngựa trên bãi biển,
nhà khoa học vật lí trong Gió… Trực giác tinh nhạy được mài giũa qua hoạt
động nghề nghiệp khiến họ dễ dàng “bắt sóng” với nỗi cô đơn, cảm giác trống vắng,
sự lạc lõng trước đời sống hiện đại và ám ảnh về cái chết, từ đó nảy sinh nhu cầu
tìm kiếm hơi ấm trong kí ức, mộng tưởng và sự sáng tạo nghệ thuật. Đấy là những
trạng thái tồn tại tinh thần mà chỉ khi đã trải qua gần trọn những thăng trầm của
đời sống, khi cận kề điểm kết thúc của đời người, mỗi cá nhân mới có thể ý thức
trọn vẹn giá trị, vẻ đẹp cũng như nỗi buồn của nó.
Trong
truyện của Ý Nhi, nhân vật luôn được khắc họa trong trạng thái và hành động suy
tưởng. Những motip tâm lí - hành động suy tưởng xuất hiện thường xuyên. Ví dụ
motip kiếm tìm và đi lạc; motip ảo giác hay nhầm lẫn; motip độc thoại nội tâm; motip
đối thoại “lạc giọng”… Những điều này nhắc ta cần nhận thức về suy tưởng không
phải chỉ như một yếu tố nội dung hoặc hình thức thể hiện trong tác phẩm, mà hơn
thế - như một chiến lược đọc. Nghĩa là, cần phải tiếp cận Dấu vết, Con ngựa
trên bãi biển, M, Đường qua công viên… không phải như một chuỗi sự kiện, biến
cố mà như một không gian suy tưởng đang vận động. Thay vì tập trung vào sự kiện
(chuyện gì xảy ra), ta cần tập trung vào vấn đề ý thức (ý thức nhân vật đang chuyển
biến như thế nào). Khi đó, suy tưởng sẽ trở thành một điểm tựa, một cơ chế mở
văn bản, kích hoạt diễn giải.
Hãy
thử phân tích một truyện ngắn - Đường qua công viên.
Trong
tác phẩm này, không gian sống của “ông” - nhân vật chính, là một ông già cô độc,
chỉ quanh quẩn trong mấy khu phố, nối nhau bằng con đường qua một công viên và
quán cà phê có tên PM. Coffee. Câu chuyện được khởi nguồn từ ám ảnh của nhân vật
về cửa thoát hiểm trong một đám cháy ở chung cư mini gần đó. Ám ảnh đó khiến
ông dù chìm đắm trong những suy tư rời rạc, lẫn lộn vẫn luôn có một điểm tựa ý
thức để “neo về”. Đó là ý tưởng về lối thoát định mệnh. Chẳng hạn, cánh cổng vườn
để mở của người đàn ông ngẫu nhiên gặp trên đường có thể là “cửa thoát hiểm” của
con chó lạc chủ. Quán cà phê của thời tuổi trẻ (không hiểu sao cứ khiến tôi
nghĩ tới tiểu thuyết Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối của Patrick
Modiano), với văn chương và người bạn tên K. có lẽ cũng là một cánh “cửa thoát
hiểm” của nhân vật, giúp ông vượt qua nghịch cảnh đau buồn của chiến tranh, thời
cuộc và bi kịch cá nhân. Và những hồi ức thanh xuân phải chăng cũng chính là “cửa
thoát hiểm” cho cuộc sống đầy cảm giác cô độc, bất an của nhân vật, xác nhận “sự
tồn tại tri giác” của ông trong hiện tại?... Thời quá khứ (vài chục năm trước)
kết nối một cách tự nhiên trong hoài niệm, hồi ức với thì hiện tại tiếp diễn và
với thì tương lai (sau này). Cụm từ “sau này ông nghĩ” được nhắc lại năm lần,
trong các câu văn in nghiêng, được đặt trong dấu ngoặc đơn, và tách riêng ra,
như những chú thích ngữ. Ở năm lần đầu, đấy là suy tưởng của nhân vật từ điểm
nhìn của người kể chuyện. Nhưng đến lần thứ sáu, sự nghĩ của nhân vật đã chuyển
dịch/ hòa trộn vào điểm nhìn/ sự nghĩ của người kể chuyện. Bằng việc sử dụng
các trạng ngữ chỉ thời điểm (sau này đối lập với trước đó), có lẽ
tác giả muốn lưu ý tới tính tiếp diễn, trôi chảy và biến đổi không ngừng của mạch
suy tưởng trong nội tâm con người. Ở đây, nhà văn đứng trước một mâu thuẫn thực
tế, cần phải xử lí: một mặt, để tái hiện dòng vận động của ý thức nhân vật, cần
thiết phải sử dụng những kĩ thuật tự sự tiệm cận dòng ý thức, một hình thức viết
hiện đại, hiệu quả. Song, nếu dòng ý thức được tái hiện như là chính nó, điều
này có thể dẫn đến trạng thái hỗn loạn và cánh cửa trước độc giả sẽ sập lại. Sẽ
không có một “cửa thoát hiểm” nào cho cả tác giả lẫn độc giả. Hãy đọc “lời tự vấn”
của nhân vật người kể chuyện - tác giả ở phần cuối câu chuyện (là một bộ phận hữu
cơ của truyện ngắn này) để thấy rõ hơn nhận thức và phương án xử lí vấn đề của
Ý Nhi: “Không phải “Ông” mà là tác giả, bất chợt tự vấn, hà cớ
gì lại không thể có một cái cửa thoát hiểm nơi căn phòng ấy, ngôi nhà ấy, buổi
sáng ấy”. Nhà văn đã chọn phương án dung hòa. Một mặt, bà đã sử dụng
kĩ thuật tự sự theo dòng ý thức một cách chủ động nhằm làm hiển lộ mạch vận động
liên tục, hỗn loạn, rối bời - vốn là bản chất của dòng ý thức - trong đời sống
nội tâm con người. Đồng thời, kĩ thuật ấy được sử dụng một cách tiết chế, có kiểm
soát. Điều này bộc lộ quan niệm nghệ thuật của tác giả: ngay sự hỗn mang của
dòng ý thức - như một đối tượng, một chủ đề viết - cũng cần được ý thức và xử
lí (qua kĩ thuật viết) một cách tỉnh táo. Phải chăng, ý thức tỉnh táo, sâu sắc
về bản chất của sự viết, của mối quan hệ giữa cái được viết và kĩ thuật viết
chính là một cánh “cửa thoát hiểm” tối cần của người viết và cả người đọc trong
bối cảnh hiện đại?
Ví
dụ trên một lần nữa cho thấy không phải sự kiện hay nhân vật mà là suy tưởng (nói
chính xác là suy tưởng của nhân vật) mới là yếu tố then chốt trong cấu trúc tự
sự của truyện ngắn Ý Nhi. Suy tưởng chi phối và liên kết mọi yếu tố trong truyện,
bao gồm ngôn từ, không khí và nhịp điệu thẩm mĩ. Văn bản ngôn từ được triển
khai theo mạch suy tưởng và ta chỉ thấy rõ sự chặt chẽ, tinh tế của các câu, đoạn,
chi tiết, hình ảnh… khi đặt chúng trong văn mạch cũng như trong hệ sinh thái ý
thức mà chúng thuộc về. Tương tự, không khí trầm tĩnh và nhịp điệu chậm rãi vừa
có thể xem như là “hệ quả” kéo theo của dòng chảy tinh thần miên man, đồng thời
chính là “công cụ” nghệ thuật hiệu quả để chuyển tải mạch nội tâm bất tận ấy. Đây
chính là những đặc điểm nổi bật của loại hình truyện ngắn suy tưởng. Tuy nhiên,
những đặc điểm thẩm mĩ này cũng tạo nên giới hạn tiếp nhận của nó. Một khi suy
tưởng lấn át hành động, nhịp điệu trần thuật bị hãm chậm và biến cố bị làm mờ,
truyện Ý Nhi có thể gây ra cảm giác đơn điệu hoặc khó nắm bắt, nhất là với những
độc giả có thói quen tiếp cận văn xuôi qua cốt truyện và xung đột kịch tính.
Một
điều có lẽ cũng cần nói thêm. Trong truyện ngắn của Ý Nhi (đặc biệt ở tập Con
ngựa trên bãi biển), nhân vật trung tâm thường là đàn ông và được định danh
bằng các hình thức xưng hô mang tính phiếm chỉ hóa như anh, ông. Điều
này khác với thơ của bà, ở đó, nhân vật trữ tình là nữ và thường xưng tôi,
em. Dù ngôi kể phổ biến là ngôi thứ ba (vô nhân xưng và không có dấu hiệu
cho thấy người kể chuyện là nam hay nữ), thế giới trong truyện vẫn được tổ chức
theo cảm nhận và kinh nghiệm tồn tại của nhân vật nam. Việc chọn nhân vật nam
làm trung tâm điểm nhìn trần thuật cho phép Ý Nhi tiếp cận đời sống từ một góc
nhìn và kinh nghiệm tri nhận khác với căn cước giới quen thuộc. Có lẽ đây là một
lựa chọn nghệ thuật có chủ ý. Hình thức “nhập vai tri nhận” này có thể giúp tác
giả thoát ra những giới hạn mặc định của bản ngã, mở rộng biên độ trải nghiệm
và suy tưởng, sáng tạo.
Sự
xuất hiện phổ biến hình tượng con người có tuổi, nhiều trải nghiệm trong truyện
ngắn của Ý Nhi, theo tôi nghĩ, là một lựa chọn vừa tự nhiên vừa tất yếu. Ngoài
sự đồng cảm, thấu hiểu, rõ ràng nhà văn nhận thấy họ là những đối tượng hết sức
thích hợp cho hướng tự sự tiếp cận nội tâm. Bởi vậy, viết về người già nhưng Ý
Nhi không sa vào chủ nghĩa đề tài hay chủ nghĩa cảm thương. Bà tập trung vào việc
khắc họa họ như những đời sống nội tâm độc lập hơn là chú ý đến vấn đề xung đột thế hệ hoặc những
khía cạnh bi kịch của con người ở tuổi già (điều thấy rõ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp hay Nguyễn Ngọc Tư…). Trước
và sau, trong thơ cũng như truyện ngắn, Ý Nhi luôn nhất quán với cái đích tìm
kiếm, khẳng định tiếng nói tinh thần, nội cảm của con người. Dù là nam hay nữ
và dù ở độ tuổi nào, con người trong tác phẩm của bà luôn thể hiện mình như một
cá nhân đầy ý thức, luôn có khả năng phân tích, phản tỉnh, ngay cả trong sự già
nua, suy tàn và tan vỡ của những ảo tưởng đời người. Có lẽ đấy cũng là điều bà
lựa chọn trong sáng tạo - đi theo đường nhỏ, lùi xa trung tâm, để cất lên tiếng
nói của mình, là mình.
Để kết thúc, xin nhắc lại một lần nữa: không phải đề tài hay sự kiện, nhân vật, trong truyện ngắn Ý Nhi, chính không khí, nhịp điệu và suy tưởng mới là những yếu tố nghệ thuật then chốt. Chúng hiện diện với tư cách là những yếu tố cấu trúc nội tại, vừa độc lập vừa phối thuộc, tạo nên cơ chế vận hành đặc thù của thế giới nghệ thuật, đồng thời, biến văn bản trở thành một cấu trúc tiếp nhận ngầm ẩn, có khả năng chi phối hoạt động đọc. Điều này, như đã nói ở trên, đòi hỏi một cách “đọc chậm”, nghĩa là đọc văn bản như một không gian suy tưởng, theo nhịp điệu nội tâm nhân vật và trong tính chỉnh thể, trọn vẹn của tổ chức ngôn từ, hình tượng. Việc đọc, do vậy, không dừng lại ở việc cắt nghĩa, lí giải hiện thực - sự kiện mà cần thiết phải trở thành một hoạt động trải nghiệm tinh thần được ý thức. Ở đó, hành trình đọc tác phẩm thực chất cũng là hành trình độc giả kiểm nghiệm, soi chiếu và tự vấn về đời sống và chính mình. Vinh, 18/12/2025 L.H.Q.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét