CHỮ B VÀ (CÓ THỂ KHÔNG PHẢI) BIỂN
(Về bài thơ Chữ B của Nguyễn Thị Từ Huy)
Lê Hồ Quang
Văn
bản này nằm trong tập thơ Chữ cái của Từ Huy. Tập thơ được khởi nguồn từ
ý tưởng thơ bắt đầu từ con chữ, là các chữ cái trong bảng ký tự ABC. Tên của
bài thơ cũng là tên chữ cái. Nhưng ta chỉ biết điều đó khi đọc lại mục lục, còn
nếu nhìn trên hình thức văn bản, bài thơ (bao gồm cả tiêu đề - từ ngữ - câu -
đoạn – văn bản) được sắp xếp và hiện diện dưới hình dạng một chữ cái. Nói cách
khác, tên bài thơ, cũng như chính bài thơ ấy, nằm trong hình dạng cụ thể của
mỗi con chữ.
Vậy
nên, tôi gọi bài thơ này trước hết theo hình dạng ký tự của nó (cũng là tên bài
trong Mục lục), là Chữ B.
Hình
thức văn bản này gây khó cho chúng ta, nếu muốn đọc theo trật tự thông thường:
từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Nhưng nó cũng gợi ý, hơn thế, cho phép
chúng ta thử nghiệm những cách đọc mới, với văn bản.
Ta
có thể đọc theo cách 1: từ trái qua phải, trên xuống dưới. Tiếp đó, bên phải,
từ trên xuống, theo hình dạng chữ. Ta có văn bản thứ nhất:
Văn
bản 1
Sau
khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây
không ai coi đó là khát vọng nữa
Đại
dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát
khát
nước và khát vọng
Khởi
đầu và kết thúc ảo tưởng về vô tận
biển
chết cho những con tàu được sống.
Nhưng
ta cũng có thể đọc theo một trật tự khác. Bắt đầu từ bên trái, từ trên xuống.
Tiếp đó, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Ta có văn bản 2 sau đây.
Văn
bản 2
Khởi
đầu và kết thúc của ảo tưởng về vô tận
biển
chết cho những con tàu được sống
sau
khi thỏa mãn khát vọng vòng quanh thế giới mà giờ đây
không ai coi đó là khát
vọng nữa.
Đại
dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát
khát
nước và khát vọng.
Ít nhất, ở hai cách đọc này, đều cho ra những văn bản có nghĩa. Đề tài của chúng khá chụm, đều nói về biển. Đó là lý do tôi muốn ghi thêm phụ chú tiêu đề bài thơ trong ngoặc đơn, sau CHỮ B, là BIỂN.
Còn
về mặt cấu trúc, cách sắp xếp này vẫn cho thấy những văn bản thơ có cấu trúc
tương đối chặt chẽ. Đó là những cấu trúc mang tính triết lý và sức nặng của nó
dồn vào câu cuối, một chốt hạ vùa có tính khái quát về nghĩa, vừa có độ dư vang
của âm hưởng, và cùng với nó, là ý nghĩa.
Tuy
nhiên, ở hai cách sắp xếp lại văn bản như trên, Chữ B (hay Biển) vẫn có những
khác biệt nhất định. Ở văn bản thứ nhất, câu thơ mở đầu gợi nhớ đến hải trình
lịch sử vòng quanh trái đất bằng thuyền, từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương
của nhà thám hiểm hàng hải Bồ Đào Nha lẫy lừng Ferdinand Magellan, ở
thế kỉ XVI, người đã biến khát vọng vòng quanh trái đất của nhân loại thuở ấy
thành hiện thực, và cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, các phương
tiện hàng hải, hàng không, “giờ đây không ai coi đó là khát vọng nữa”.
Nhưng dẫu giờ đây “đại dương dư thừa nước”, con người vẫn chết khát, “khát
nước và khát vọng”. Xét về mặt câu chữ, có vẻ đó là nghịch lý, xuất phát từ
một kiểu chơi chữ (dư thừa nước/ vẫn khát nước/ khát vọng), nhưng về mặt nghĩa,
đó lại là một nhận thức về sự thật. Vẫn tiếp tục khai triển mạch liên tưởng về
Biển, câu kết chốt lại trong một cấu trúc hình ảnh vừa song hành vừa đối lập,
đòi hỏi sự ngẫm nghĩ: Biển chết cho những con tàu được sống. Câu hỏi có
thể đặt ra ở đây là: Tại sao biển chết => ĐỂ CHO <= con tàu được sống?
Có nhất thiết những sự vật ấy phải tồn tại trong thế đối lập loại trừ vừa nêu?
Hay đó là một tình huống giả định, để diễn tả tình thế tồn tại của khát vọng (ở
đây là khát vọng ra khơi, của con tàu, vốn là một biểu tượng quen thuộc trong
thơ, ví dụ, Con tàu say của A. Rimbaud), chỉ có thể tồn tại khi trên
thực tế không có điều kiện và khả năng để hiện thực hóa? Xin miễn cho tôi những
phân tích tiếp theo.
Ở văn bản 2, ở vị trí mở đầu là câu khẳng định – khái quát,
vốn nằm ở vị trí kết thúc của văn bản 1. Cùng với sự đảo ngược này, kết thúc
của văn bản 2 là hai dòng mô tả một hiện trạng đời sống và tâm hồn (vốn trong
văn bản 1, nằm ở phần giữa):
Đại
dương dư thừa nước và những người đi biển vẫn chết vì khát
khát
nước và khát vọng.
Mô
tả nhưng thực chất là khẳng định. Nên, nếu so sánh một giản lược, có thể thấy,
văn bản 1 có vẻ “kết thúc lạc quan hơn”, vì dẫu phải lựa chọn một tình thế
(mang tính) bi kịch, thì giả định “biển chết” vẫn có được một happy end
là “những con tàu được sống”. Còn ở văn bản 2, không có một bi kịch lạc
quan nào hết. Rốt cục, “những người đi biển vẫn chết vì khát”. Đương
nhiên, ở cả hai tình huống chết khát – “khát nước và khát vọng”.
Như vậy, cũng trên đề tài Biển, cũng số lượng câu chữ ấy, chỉ
cần một vài sắp xếp, thay đổi vị trí, bố
cục, nghĩa và ý nhĩa của chúng, có thể đã rất khác.
Nhưng
vậy thì, trong tên bài, tại sao tôi còn thêm phần chú thích ngữ này:
CHỮ
B hay (có thể không phải) BIỂN?
Lý
do rất đơn giản. Bởi vì, để có thể đọc - hiểu “bài thơ” này, tôi đã tháo tung
cấu trúc và hình dạng ban đầu của nó. Bản thân bài thơ này nó hiện diện dưới
dạng là một chữ cái – chữ B hoa. Việc tháo tung văn bản rồi sắp xếp lại câu
chữ, để lần ra những mạch nghĩa khác nhau trên các văn bản, theo kiểu tôi đã
làm, cho thấy một khả năng phát nghĩa dồi dào và đa dạng của ngôn ngữ, điều các
nhà ngôn ngữ học đã nói tới nhiều trên phương diện lý thuyết. Và Từ Huy đã
chứng minh điều đó bằng một ví dụ độc đáo. Mặt khác, nghĩa và ý nghĩa của ngôn
ngữ, về căn bản, là kết quả “sự thỏa thuận” giữa ngôn ngữ và người tiếp nhận
(điều này đương nhiên cũng đúng với với tác phẩm văn học). Do đó, với CHỮ B,
tôi có thể “đọc” ra (một số) câu chuyện về BIỂN. Song, sau tất cả, khi ngắm lại
hình hài nguyên ủy của “bài thơ”, tôi nhận ra, dưới hình dạng chữ cái, văn bản
còn có thể nói với độc giả thêm nhiều vấn đề nữa. Chẳng hạn, độ nén và sức gợi
của ngôn ngữ thơ. Chẳng hạn, vấn đề tiếp nhận thơ, và rộng ra, là tiếp nhận
nghệ thuật. Hoặc, vấn đề “hình dạng” của một “bài thơ”. Nó có nhất thiết phải
được trình bày theo trật tự tuyến tính, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới,
hết 4 dòng thì phải xuống dòng để tạo thành khổ, như thông thường hay nó có thể
được trình bày dưới dạng khác, gây ấn tượng thị giác hơn, thậm chí còn có thể
có những hình thức thay đổi triệt để hơn nữa, chẳng hạn thơ trình diễn, mà vẫn
không làm mất đi “tính thơ”? v.v. Như
vậy là thực sự có nhiều vấn đề đáng nghĩ đã được đặt ra ở đây, trong một bài
thơ nhỏ của Chữ cái. Và đó chính là một giá trị nội dung/ ý nghĩa đáng
kể của nó.
Vinh, 2021
L.H.Q
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét