ĐỌC THƠ MỘT NGƯỜI CH/NỮ
(Về thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh [1])
Lê Hồ Quang
Trong tập thơ thứ nhất của Nguyễn Thị Thúy
Hạnh, hình tượng chữ xuất hiện ngay trong nhan đề - Di chữ,
trong cả lời đề từ - ta đi giặt áo thơ/ nhặt mới một mùa chữ. Khép
lại tập thơ, ở bìa sau, hình tượng ấy cũng được nhắc lại: tôi tái sinh lời/ chữ
tái sinh tôi. Ở tập thứ hai, Văn học vết thâm, hình tượng chữ tiếp tục
được khai triển, mở rộng:
“đằng sau cửa hẹp là một cái hang
cũng là một con đường, một trú ẩn và một khai phóng, một hiện hữu và một dẫn dắt,
một cô lập và một mời mọc, một Logos đồng bằng dựng ngược, một sống Lời và
không-gì-khác…”
Có thể nói, chữ là chất liệu, là hình tượng, đồng thời là hạt nhân cấu trúc nên thế giới thơ Thúy Hạnh. Chữ không chỉ được tác giả nhận thức như là công cụ, phương tiện giao tiếp mà còn là “ngôi nhà của hữu thể” (Martin Heidegger), nơi cư ngụ tinh thần thăm thẳm của con người. Nên tìm chữ cũng là tìm kiếm căn cước tinh thần của cá nhân được xác lập bằng/ qua chữ. Có một “nhãn quan chữ” vừa thấu tỏ, tường minh, đồng thời đầy khắc khoải, không ít do dự, bất an bao bọc thế giới thơ này.
Trong tập Văn học vết thâm, có một
bài thơ ngắn khá đặc biệt – Người
ch/nữ. Có thể xem đây như một tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Thị
Thúy Hạnh. Xin đưa lại nguyên văn.
Người ch/nữ
Cầm bút chẳng qua là…
EM
Người ch/nữ thiên nhiên
Người ch/nữ thời - không
bầu
ngực ở Zen
đôi
mắt Breton
rốn
của mặt trăng
cặp
đùi: A-men
EM
Người ch/nữ huyền thoại
Người ch/nữ linh nghiệm
Người ch/nữ không hiện diện
Người ch/nữ Đan Thiềm
Mất
ngủ đêm đêm
Cụm từ “người ch/nữ” xuất hiện 7 lần (kể
cả tên bài) trong bài thơ gồm 14 dòng (kể cả đề từ). Rõ ràng, “người ch/nữ” là
từ khóa chủ đề và cũng là hình tượng trung tâm của bài thơ. Tách rời phụ âm đầu
của hai từ (chữ, nữ) và gộp nhập chúng lại, tạo nên một cấu trúc từ mới
(ch/nữ), Thúy Hạnh đã xóa nhòa ranh giới giữa chữ và người (nữ), đồng thời,
nhấn mạnh sự hợp nhất chặt chẽ giữa căn tính giới và căn tính sáng tạo của
người viết. Theo đó, cả hai đều được kiến tạo bằng/ trong chữ. Chữ, như vậy, là
một kí hiệu mang tính biểu tượng. Nó vừa có ý nghĩa như nguồn tinh thần uyên
nguyên, là Lời (khởi thủy là Lời - Kinh Thánh), vừa là một nội dung sống,
nội dung sáng tạo. Người viết dùng chữ để sáng tạo căn tính giới, đồng thời, trên hành trình ngôn
ngữ ấy, kiến tạo nên căn tính sáng tạo của cá nhân.
Trong bài thơ, căn tính nữ không chỉ được
xác lập bởi các đặc điểm sinh học, mà còn được kiến tạo bằng những ý niệm, biểu
tượng triết học, lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật… Đó là lí do hình tượng người
ch/nữ - Em hiện diện như một tác phẩm tạo hình lập thể rực rỡ: bầu ngực ở
Zen/ đôi mắt Breton/ rốn của mặt trăng/ cặp đùi: A-men. Nhưng đồng thời, chân
dung người ch/nữ, qua con mắt Thúy Hạnh, còn hiện lên như một cá nhân bị ám ảnh
với định mệnh đen tối chực chờ và những giằng xé hiện sinh. Có lẽ không ngẫu
nhiên mà ở lời đề từ và dòng kết thúc của bài thơ xuất hiện hình ảnh người
ch/nữ Đan Thiềm, nhắc lại âm hưởng bi kịch cũng như ý nghĩa bất khả chối từ
của việc cầm bút: Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.
Những ý tưởng cô đọng trong Người
ch/nữ được triển khai, mở rộng trong nhiều sáng tác khác của Thúy Hạnh. Ý
thức về cái tôi, trong thơ Thúy Hạnh, gắn liền với ý thức về thân thể, về tình
yêu, những trải nghiệm riêng tư và cách thể hiện/ viết về chúng.
Hãy đọc bài thơ ngắn sau đây - Bẻ
xương sườn. Cũng như cái tên, nó có cách trình bày khá ấn tượng:
Bẻ
xương sườn
Nàng đã chuồi khỏi
thân thể anh Như một con cá
Đào ngũ khỏi chiếc đĩa
Toàn bộ bài thơ chỉ nằm trên một dòng,
được trình bày theo hình thức các con chữ nhỏ dần từ phải sang trái, tương ứng
với hành động đào thoát của “nàng” ra khỏi “thân thể anh”. Đây là
một sáng tác khá độc đáo, xét cả về ý tưởng lẫn hình thức trình bày. Người nữ
hiện hữu trước hết bằng thân thể, nhưng là một thân thể phụ thuộc. Ý nghĩa này
bắt đầu từ điển tích Adam - Eva trong Sách Sáng thế của Kinh Thánh, theo đó Eva
được Thiên Chúa tạo dựng từ xương sườn của Adam. Bị sinh ra trong một xã hội mà
mọi diễn ngôn lịch sử, tôn giáo, văn hóa… đều hướng đến áp đặt quyền lực của
nam giới[2],
trong mối quan hệ phụ thuộc vào nam giới, trước hết là phụ thuộc thân thể, người
nữ này chọn khẳng định tư cách độc lập của mình bằng chính hành động cắt đứt sự
gắn bó thân thể: “bẻ xương sườn”, “chuồi
khỏi thân thể anh”, “đào ngũ khỏi chiếc đĩa”. Tách khỏi
thân thể là hành động đầu tiên để xác lập tư cách cá nhân. Tách khỏi thân thể
là hành động đầu tiên để độc lập về tinh thần, tư tưởng. Nhưng đấy cũng là một
sự chủ động trong một tình thế bị động, như “một con cá/ đào ngũ khỏi chiếc
đĩa”. Dẫu sao, đấy cũng là lựa chọn không thể khác của “nàng” trong vận động
đời sống và lịch sử, trong nhận thức của một tác giả nữ hiện đại.
Thân thể của tôi - một người nữ
- trong mắt Thúy Hạnh, có hai đặc điểm khá nổi bật. Thứ nhất là rất nữ tính, diễm
lệ: nghiêng một phím môi hồng/… thở dài một suối tóc (phòng
trống đêm ba mươi[3]);
mắt em dài liễu rủ/… da
nâu khẽ thở (hồ Vân Nam); gương mặt em như căn phòng/
Anh mở vào trong trắng/ anh lao đao trên thuyền em đôi mắt Ấn
(thương em Hà Nội nắng);… Và giàu màu sắc văn chương, thi ca, đặc biệt
là thi ca phương Đông. Nhiều hình ảnh thơ như bước ra từ trong thế giới cổ thi:
bóng hạc bay qua trăng/ Điêu Thuyền cưới Lã Bố/ Tây Thi đi giặt lụa/ cá nuốt
sợi tóc/ đêm về tương tư (bờ cổ); những ngón tay như nụ hoa bé nhỏ/
xòe nở âm ngữ/ nước hát Đường thi/ liễu múa Tống từ (Thanh minh)… Thân thể ấy thường gắn liền với những trải
nghiệm và cảm giác cá nhân đau đớn, u uẩn: những ngón tay rũ rượi/ trên những
phím tóc xanh (và ngồi một mình); nhan sắc nở thành đóa tươi thắm/
rụng xuống đất từng cánh cô đơn (nhan sắc); chữ rầu bóng tối/ thân thể đau vết
thương bụi (đường sinh tử lời); thân thể tôi lạnh buốt tiền kiếp/
tôi nôn ra nỗi cô đơn của mình (đêm, hoa hồng và chiến tranh);…
Xem thân thể như một xuất phát điểm ý tưởng, thơ
Thúy Hạnh bộc lộ một khả năng suy tưởng trừu tượng khá sâu sắc trong khi vẫn đảm bảo tính
chất cảm tính, cụ thể của hình tượng. Trong mưa Lĩnh Nam, chân dung “giai
nhân cỏ dại”, với “nghìn nụ hôn dao cứa”, với sắc trắng cụ thể từ trắng
môi-răng-tóc-da-ngực… đến sắc trắng siêu hình trắng xương-thịt-tử vi-số-phận,
giữa một không gian “mưa tốt máu tươi” đầy Liêu Trai, như một suy nghiệm
khái quát và ám ảnh về thân thể-đời sống người nữ:
Đêm nay ta bói Đường thi
cỏ Lĩnh Nam buồn rối tóc em lùa
nghìn nụ hôn dao cứa
anh hôn em
môi trắng
răng trắng
tóc trắng
da trắng
ngực trắng
tràn thân thể trắng
trắng sinh lời
ngón tay trắng
bàn chân trắng
xương trắng
thịt trắng
tử vi trắng
số trắng
phận trắng
tzắng Man Nương
anh yêu em mộng khép không thành
mái tóc em một cầu
vồng gãy
anh yêu em giai nhân cỏ dại
Lĩnh Nam mưa tốt máu tươi.
(mưa
Lĩnh Nam)
Nỗi đau đớn, cảm giác bất trắc, tuyệt vọng,
trống rỗng thường trở đi trở lại trong thế giới tinh thần của chủ thể. Đó là một
tâm hồn nhạy cảm, dễ dàng bắt sóng và cộng hưởng với nỗi đau của tha nhân, của
những cảnh đời khốn cùng, như bão qua sa mạc, tuyết trộn lẫn cùng nham thạch/
như đứa trẻ bị giật khỏi bầu sữa, từng giọt sống bị đánh cắp/ như ngôi làng bị
tàn sát gió dựng dậy tro than… (thanh xuân ẩn ức). Bài thơ Đàn bà
khá đặc biệt trong hình thức tạo hình, những câu thơ lục bát được chia đôi, xếp
theo hàng dọc, có thể đọc từ trên xuống, từ trái sang phải hoặc ngược lại và đều
có thể tạo nghĩa (hình thức trình bày này gợi tôi nhớ đến một số bài trong Bến
lạ của Đặng Đình Hưng hoặc Chữ cái của Từ Huy). Có lẽ, cách đọc thơ
đặc biệt đó - soi chiếu, lật trở văn bản từ nhiều góc độ - cũng là cách nhằm nhấn
mạnh hơn cảm thức cát bụi phận người/ cát bụi tả tơi/ cát bụi đàn bà…
Tình yêu của cái tôi này có mãnh liệt,
sâu sắc không? Tôi nghĩ là có, nhưng nó được thể hiện theo một cách khá khác biệt
so với nhiều tác giả cùng thời. Viết về tình yêu của tôi, nhưng thơ Thúy
Hạnh rất ít bộc bạch xúc cảm trực tiếp. Chị thường quan sát và mô tả một cách
khá bình thản về các sự việc và trạng thái tình yêu. Chị thể hiện một sự chú
tâm gần như tuyệt đối, và một óc tưởng tượng gần như siêu thực, khi vừa sống trọn
vẹn trong từng khoảnh khắc hiện thực vừa sẵn sàng tách mình hoàn toàn khỏi đó,
như một kẻ khác, ngoài tôi:
Ksana
lưỡi anh lùa miệng em
chậm rãi
hôn
như cách thăm dò chiều sâu vết
thương
thế giới
Trong cái nhìn thản nhiên, điềm tĩnh
này, tình yêu có thể hiện lên rất xa lạ - như tên của một bài thơ:
Họ yêu nhau họ yêu nhau bằng mắt
Họ yêu nhau
Họ yêu nhau bằng tóc
Họ yêu nhau như bụi yêu dấu chân như
lông ngỗng yêu vết máu
Họ yêu nhau
Như xa lạ yêu nhau
(xa
lạ)
Trải nghiệm tình yêu là trải nghiệm
thân thể đồng thời là trải nghiệm nhận thức. Mỗi một satna là một trạng thái tồn
tại và chuyển hóa của muôn vàn trạng thái xúc cảm đối lập. “Lắng nghe”, “mở
tìm và sắp xếp” tình yêu bằng giác quan cùng lí trí và phiên dịch, tái sinh
nó bằng ngôn từ là một khoái cảm sâu xa, thầm kín của cái tôi trữ tình:
Chúng tôi nằm bên nhau, sau tấm rèm
của một bài thơ
mở tìm và sắp xếp
ý nghĩa của cơ thể
lắng nghe
sự cọ xát
nhịp điệu khô hoặc ướt, những chuyển
động từ không gian khác
tất cả diễn ra
trong một tồn tại yên tĩnh
(Những
bản dịch)
Đúng là tình yêu trong thơ Thúy Hạnh
thường diễn ra “trong một tồn tại yên tĩnh”, trong sự chú tâm hướng vào
những rung động bên trong của cá nhân. Tương tự tình yêu, cái chết - như một đối
tượng trữ tình - cũng được quan sát trong sự gián cách, trong một thái độ “ngắm
nhìn” nhẹ nhõm và bình thản. Cái chết “luôn là động từ chia ở thì tương
lai gần” và do đó:
Tôi ngắm nhìn cái chết của mình
Rất trắng
Và rất trong
Lòng thơm như gió đi qua vườn hồng
(Mùa
xa vẫy gọi)
Ý thức về mình như một người nữ luôn đi
cùng với ý thức về người nam, cụ thể ở đây là với “anh”, một người tình (mà cũng
có thể hiểu là đại diện cho giới còn lại). Nó hình thành như một quá trình, đi
từ cảm giác phối thuộc (bẻ xương sườn), hình thành nên ẩn ức “tìm người
che chở cho nỗi đau của mình” (Thanh xuân ẩn ức), đến một cái nhìn
bình đẳng hơn, bao dung hơn, về vai trò cũng như sự cần thiết của nhau trong đời
sống và nhịp vận hành vũ trụ:
Em anh Anh em chúng ta
thở vào: mở cuốn bách khoa đêm
thở ra: anh tra toàn thư em
(Bốn
mùa)
Cái tôi của Thúy Hạnh là một bản thể khá
phức tạp, chứa đựng “nhiều khả thể sống trong tôi” với không ít mâu thuẫn,
nghịch lí, nhưng luôn tự ý thức và giàu tinh thần phân tích. Một điều khá thú vị
là, trong nhiều bài thơ của Thúy Hạnh, nhân vật trữ tình có thể hiện diện trong
vai nam giới và sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất - Anh, ví dụ: Anh chờ
em mùa thu/ nói rằng sẽ gửi cho anh/ một email khi nỗi nhớ tràn vực chữ/ cơ thể
anh đã chất đầy mưa úa… (Email). Việc “nhập vai” để quan sát thế giới
và đời sống của chính mình bằng điểm nhìn nam giới, khiến tác giả có thể mở rộng
nhận thức, cảm giác và kinh nghiệm tồn tại một cách khá tự nhiên trong khả thể
giới đối lập.
Với Thúy Hạnh, ý thức về mình như một
người nữ luôn gắn liền với ý thức về mình như một người viết, người sáng tạo chữ.
Bằng việc thực hành chữ/ ngôn ngữ, chị cũng đồng thời kiến tạo nên căn cước
tinh thần của chính mình: hồn ma ngôn ngữ thở than/ máu rơi đầy trên
trang viết mỗi đêm (m-ắ-t). Có thể không hẳn ngay từ đầu điều này đã
được tác giả ý thức một cách trọn vẹn, đầy đủ, tuy vậy, dường như càng ngày tác
giả càng nhận ra ý nghĩa, giá trị của chữ với chính mình. Không chỉ là công cụ
hay dấu hiệu nhận diện, chữ là một thực hành tồn tại của cái tôi Thúy Hạnh:
không ai có thể giết tôi được, tôi tự
vệ bằng từ
tôi cắt tóc mình chôn dưới cổng
thành, chôn thật sâu một hoang tưởng tử tế một trùng trùng yêu thương một đẹp dị
biệt
tôi kì quái thê lương chân đạp tung
chật hẹp
tôi thở bằng ngôn ngữ khác, tôi xới
hành trình khác, tôi mặc một thế giới khác, tôi cầm tay những người lạ mặt.
đám ma tôi quan tài chất đầy sách,
thân thể tôi liệm bằng chữ, chữ cười buôn buốt: mi sẽ cô đơn cho đến chết,
chúng ta đi theo mi dù mi muốn hay không
(I---------I)
Không phải tác giả làm thơ sẽ trở thành
nhà thơ. Chính hành động làm thơ và ý thức về hành động ấy mới khiến chị trở
thành một tác giả như đang là. Thực ra ý thức kiến tạo căn tính sáng tạo
qua/ bằng chữ của tác giả cũng là một quá trình, với không ít lưỡng lự, bi phẫn,
thậm chí cảm giác chối bỏ: “Bước qua dục vọng, nhìn xuống đáy giếng thân phận,
tôi biết mình chỉ là một giai nhân cỏ dại, một loại rác sạch, một
gương mặt chữ” (Di chữ). Nhưng nói cho cùng, chữ, thơ hay sự sáng
tạo, ít nhất cũng đã đem lại cho tác giả một điểm tựa, một lối thoát, trong ý
thức về sức mạnh lẫn sự cô đơn tuyệt đối của nó.
Nhìn trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, quan niệm về chữ hay những
tìm tòi theo hình thức thơ thị giác của Thúy Hạnh không phải là một sáng tạo đột
xuất. Có thể nhìn thấy sự ảnh hưởng và kế thừa của Thúy Hạnh trong quan niệm về
chữ, về thơ-chữ, thơ-hình họa, thơ-nhạc của các tác giả đi trước như Trần Dần,
Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường… Nhưng nếu Trần Dần đặt chữ trong mối quan
hệ với nghĩa, coi trọng sự tạo sinh nghĩa của chữ; Lê Đạt chú ý tính biểu tượng
và liên văn bản của chữ; Dương Tường chú ý đến tính nhạc của chữ; thì Thúy Hạnh
quan tâm đến bản thể chữ trong sự song trùng với bản thể người nữ sáng tạo. Đây
cũng là sự khác biệt căn bản giữa thơ Thúy Hạnh và thơ Nguyễn Thị Từ Huy (tác
giả tập thơ Chữ cái), dù cả hai cùng quan tâm đến phương diện chữ/ ngôn
ngữ thơ. Nếu Từ Huy chủ yếu quan tâm đến chữ chủ yếu ở góc độ cấu trúc và cơ chế
tạo hình/ nghĩa thì Thúy Hạnh quan tâm chữ chủ yếu ở trên phương diện giá trị
và ý nghĩa hiện sinh của nó.
Sự suy tư vừa là cái được biểu đạt, vừa là cái/ cách biểu đạt. Nó tạo
nên nhịp điệu chậm rãi, của kiểu lời tự nói với mình, rất phù hợp với thể thơ tự
do mà Thúy Hạnh thường chọn. Nó tạo nên một trường không khí, một mĩ cảm nội tại
ám ảnh, vừa mới hé mở đã chực khép vào bóng tối nội tâm. Tôi tạm gọi đó là,
theo cách diễn đạt của tác giả, một tự sự im lặng. Đó là tiếng nói lặng
thầm cất lên trong thế giới của căn phòng riêng, trong ý thức về sự bất
trắc, vô minh của đời sống, của lịch sử và sự mong manh của thân phận cá nhân
và ngòi bút:
người đứng câu những văn bản người
tôi lột bỏ những chiếc vảy tham vọng
thấy lạnh run một thân thể sống
chặt làm ba khúc
kiếp này. kiếp sau. kiếp trước
tôi ngồi trên bờ ăn vết thương
đêm đêm
nghe tiếng gõ chậu của Trang Tử
bộ xương cá nằm trên giường thở
vảy mọc trên da thịt tôi
(cá)
Một khi tự thu mình lại trong sự chiêm
nghiệm nội tâm, tự đầy đủ trong/ bằng đời sống ấy, thơ không thuần túy là trữ
tình mà trở thành sự suy niệm, phản tư về chính sự trữ tình. Đấy là một thế giới đầy ám ảnh
về sự hư vô, bất trắc, tàn hoại, thương tổn. Đấy cũng là một thế giới tâm linh u
tối, bí ẩn, được cộng hưởng bởi những hình ảnh siêu thực, dị thường của cõi
Liêu, mưa tươi máu tốt, tiếng khóc của thịt xương, giấc mộng
Trang Chu, những câu thơ điên cuồng Lí Hạ, thế giới biến dạng của Kafka, cảm
giác Sysiphus, hay những ảo mộng đau đớn chập chờn… Cảm giác điêu linh, ma mị,
buồn thương vây bọc thế giới thơ. Chính ở đây, xuất hiện vô số liên văn bản triết
học, tôn giáo, nghệ thuật… được cài cắm trực tiếp hoặc gián tiếp, trong cả ý tưởng,
ngôn từ và chi tiết, hình ảnh.
Thơ Thúy Hạnh gợi ý cho tôi về trò chơi
của người sáng tạo với cái bóng của mình trong hang động Platon. Ở đó, lửa của ẩn
ức, của nỗi cô độc, của cảm giác hiện sinh phi lí hắt sáng lên vách đá lặng im.
Ở đó, chữ không chỉ là công cụ, phương tiện mà là tiếng nói của một cuộc đời, một
số phận bị lưu đày trong kiếp chữ. Thơ Thúy Hạnh là lời tự sự, ôm mang của một thân
phận chữ nghĩa. Nó khóa chặt và bung nở trong chính sự cô độc: một thân xác
chia tách, mở ra/ tiếng nói này và tiếng nói khác (Thất ngữ/ cuộc tìm tiếng). Nhưng cũng trong thơ của chị, người ta thấy vọng âm của
nhiều chiều kích tiếng nói, nỗi đau, sự oan khốc và những ám ảnh bi kịch trong đời
sống lịch sử, văn hóa, thi ca, của nhân loại. Chính ở đây, chữ hiện lên với tất
cả tính chất mong manh, phi lí và định mệnh oan nghiệt của kiếp chữ, kiếp người.
Dường như nội tâm của tác giả là một hộp cộng âm đặc biệt bén nhạy với cái đẹp,
nỗi đau, sự thương tổn và do đó, dễ dàng
bắt sóng và cộng hưởng, khuếch đại những tín hiệu nằm trong trường thẩm mĩ này.
Kể cũng hơi lạ, bởi Thúy Hạnh là người phụ nữ hiện đại, sống trong thời hiện tại,
với nghề nghiệp là một nghiên cứu viên văn học, vốn đòi hỏi sự phân tích lí trí
tỉnh táo, nhưng thơ chị lại thể hiện một tiếng nói vô thức, trực giác hết sức
mãnh liệt.
Bằng chữ/ thơ, tác giả thực sự đã tạo
được một khoảng gián cách đặc biệt giữa tâm tưởng và đời sống. Đó là một khoảng
trống mênh mông của nỗi cô đơn, đời sống dường như không chạm được vào thế giới
tinh thần khép kín ấy, nhờ vậy mà nó giữ được tính chất độc lập cần thiết. Nhưng
điều này cũng đồng nghĩa với việc con người sẽ phải chấp nhận ôm trọn nỗi đau của
riêng mình: thập giá thơ/ treo những cơn đau/ kéo dài nghìn năm/ mỏi thân
xác tôi/ những câu thơ chữ thập (mỹ dạ ngâm). Trong quá khứ, Thúy Hạnh
từng từ chối thơ bởi ám ảnh thi sĩ là kẻ “chung sống với những gãy đổ”.
Giờ đây, việc trở về với thơ đã cho chị sức mạnh nội tại để chống lại chính sự
gãy đổ.
Tuy nhiên, nếu ở Di chữ, tính chất
cảm tính, cụ thể tạo nên vẻ diễm lệ hồn nhiên của hình tượng thì sang đến Văn
học vết thâm, ý thức khái quát hóa cùng việc gia tăng sự suy tưởng về ý niệm
trừu tượng khiến tính hình tượng bị thuyên giảm. Ý niệm có phần lấn át hình ảnh,
cảm xúc. Những tìm tòi theo hướng tạo hình chữ, trong một số bài, cũng bộc lộ
tính sắp đặt và xu hướng đẽo hình gọt ý. Một khi tập trung vào chữ, mải miết
trong cuộc đối thoại tâm tưởng với kí hiệu ngôn ngữ, điều này sẽ khiến thơ Thúy
Hạnh trở thành một giáo đường cá nhân, ở đó, chữ và cái tôi nhà thơ mê mải
trong cuộc lữ còn phần lớn độc giả sẽ phải đứng ngoài cánh cửa đã khép.
Thơ Thúy Hạnh chạm vào tôi, không phải ở
việc “mặc mới một mùa chữ” với những tách nhập, ghép nối hoặc tạo hình
câu chữ, văn bản đôi khi có vẻ khá kì khu. Nó chạm vào tôi bởi cảm giác vừa thuần
khiết vừa giằng xé, bất an của chữ. Sau cùng, bằng việc chọn hiện diện, ít nhất,
nó vẫn đánh động niềm hy vọng nhỏ nhoi về những “con chữ cưu mang”, giúp
con người nhìn thấy những đám mây bay, ngay dưới vực thẳm.
Vinh, 12/6/2026
L.H.Q.
[1] Tác
giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh sinh năm 1987, hiện sống và viết tại Hà Nội. Tác phẩm
đã xuất bản: Di chữ (Nxb Hội Nhà văn, 2017); Văn học vết thâm
(Nxb Hội Nhà văn, 2021).
[2] Nhân
bàn đến ý nghĩa câu chuyện trong Sách Sáng thế về Adam và Eva, Simone de
Beauvoir viết: “Nhân loại là đàn ông và đàn ông định nghĩa phụ nữ không phải bằng
bản thể phụ nữ mà trong mối liên quan với anh ta; phụ nữ không được xem lại một
thực thể độc lập”. Simone de Beauvoir (2025), Giới thứ hai, Bảo Chân,
Như Phong dịch, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, trang 13.
[3]
Tên một số bài thơ không viết hoa chữ cái đầu tiên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét