Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Thơ Thúy Hạnh

  ĐỌC THƠ MỘT NGƯỜI CH/NỮ 

(Về thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh [1]) 

                                                         


                                     

                                                                                                Lê Hồ Quang

Trong tập thơ thứ nhất của Nguyễn Thị Thúy Hạnh, hình tượng chữ xuất hiện ngay trong nhan đề - Di chữ, trong cả lời đề từ - ta đi giặt áo thơ/ nhặt mới một mùa chữ. Khép lại tập thơ, ở bìa sau, hình tượng ấy cũng được nhắc lại: tôi tái sinh lời/ chữ tái sinh tôi. Ở tập thứ hai, Văn học vết thâm, hình tượng chữ tiếp tục được khai triển, mở rộng:

“đằng sau cửa hẹp là một cái hang cũng là một con đường, một trú ẩn và một khai phóng, một hiện hữu và một dẫn dắt, một cô lập và một mời mọc, một Logos đồng bằng dựng ngược, một sống Lời và không-gì-khác…”

Có thể nói, chữ là chất liệu, là hình tượng, đồng thời là hạt nhân cấu trúc nên thế giới thơ Thúy Hạnh. Chữ không chỉ được tác giả nhận thức như là công cụ, phương tiện giao tiếp mà còn là “ngôi nhà của hữu thể” (Martin Heidegger), nơi cư ngụ tinh thần thăm thẳm của con người. Nên tìm chữ cũng là tìm kiếm căn cước tinh thần của cá nhân được xác lập bằng/ qua chữ. Có một “nhãn quan chữ” vừa thấu tỏ, tường minh, đồng thời đầy khắc khoải, không ít do dự, bất an bao bọc thế giới thơ này. 

Trong tập Văn học vết thâm, có một bài thơ ngắn khá đặc biệt – Người  ch/nữ. Có thể xem đây như một tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Xin đưa lại nguyên văn.

Người ch/nữ

                Cầm bút chẳng qua là…

EM

Người ch/nữ thiên nhiên

Người ch/nữ thời - không

                  bầu ngực ở Zen

                  đôi mắt Breton

                  rốn của mặt trăng

                  cặp đùi: A-men

EM

Người ch/nữ huyền thoại

Người ch/nữ linh nghiệm

Người ch/nữ không hiện diện

 

Người ch/nữ Đan Thiềm

        Mất ngủ đêm đêm

Cụm từ “người ch/nữ” xuất hiện 7 lần (kể cả tên bài) trong bài thơ gồm 14 dòng (kể cả đề từ). Rõ ràng, “người ch/nữ” là từ khóa chủ đề và cũng là hình tượng trung tâm của bài thơ. Tách rời phụ âm đầu của hai từ (chữ, nữ) và gộp nhập chúng lại, tạo nên một cấu trúc từ mới (ch/nữ), Thúy Hạnh đã xóa nhòa ranh giới giữa chữ và người (nữ), đồng thời, nhấn mạnh sự hợp nhất chặt chẽ giữa căn tính giới và căn tính sáng tạo của người viết. Theo đó, cả hai đều được kiến tạo bằng/ trong chữ. Chữ, như vậy, là một kí hiệu mang tính biểu tượng. Nó vừa có ý nghĩa như nguồn tinh thần uyên nguyên, là Lời (khởi thủy là Lời - Kinh Thánh), vừa là một nội dung sống, nội dung sáng tạo. Người viết dùng chữ để sáng tạo căn tính giới, đồng thời, trên hành trình ngôn ngữ ấy, kiến tạo nên căn tính sáng tạo của cá nhân. 

Trong bài thơ, căn tính nữ không chỉ được xác lập bởi các đặc điểm sinh học, mà còn được kiến tạo bằng những ý niệm, biểu tượng triết học, lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật… Đó là lí do hình tượng người ch/nữ - Em hiện diện như một tác phẩm tạo hình lập thể rực rỡ: bầu ngực ở Zen/ đôi mắt Breton/ rốn của mặt trăng/ cặp đùi: A-men. Nhưng đồng thời, chân dung người ch/nữ, qua con mắt Thúy Hạnh, còn hiện lên như một cá nhân bị ám ảnh với định mệnh đen tối chực chờ và những giằng xé hiện sinh. Có lẽ không ngẫu nhiên mà ở lời đề từ và dòng kết thúc của bài thơ xuất hiện hình ảnh người ch/nữ Đan Thiềm, nhắc lại âm hưởng bi kịch cũng như ý nghĩa bất khả chối từ của việc cầm bút: Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.

Những ý tưởng cô đọng trong Người ch/nữ được triển khai, mở rộng trong nhiều sáng tác khác của Thúy Hạnh. Ý thức về cái tôi, trong thơ Thúy Hạnh, gắn liền với ý thức về thân thể, về tình yêu, những trải nghiệm riêng tư và cách thể hiện/ viết về chúng.

Hãy đọc bài thơ ngắn sau đây - Bẻ xương sườn. Cũng như cái tên, nó có cách trình bày khá ấn tượng:

 

Bẻ xương sườn

 Nàng đã chuồi khỏi   thân thể anh  Như một con cá  Đào ngũ khỏi chiếc đĩa

 

 

Toàn bộ bài thơ chỉ nằm trên một dòng, được trình bày theo hình thức các con chữ nhỏ dần từ phải sang trái, tương ứng với hành động đào thoát của “nàng” ra khỏi “thân thể anh”. Đây là một sáng tác khá độc đáo, xét cả về ý tưởng lẫn hình thức trình bày. Người nữ hiện hữu trước hết bằng thân thể, nhưng là một thân thể phụ thuộc. Ý nghĩa này bắt đầu từ điển tích Adam - Eva trong Sách Sáng thế của Kinh Thánh, theo đó Eva được Thiên Chúa tạo dựng từ xương sườn của Adam. Bị sinh ra trong một xã hội mà mọi diễn ngôn lịch sử, tôn giáo, văn hóa… đều hướng đến áp đặt quyền lực của nam giới[2], trong mối quan hệ phụ thuộc vào nam giới, trước hết là phụ thuộc thân thể, người nữ này chọn khẳng định tư cách độc lập của mình bằng chính hành động cắt đứt sự gắn bó thân thể: “bẻ xương sườn”, “chuồi khỏi thân thể anh”, “đào ngũ khỏi chiếc đĩa”. Tách khỏi thân thể là hành động đầu tiên để xác lập tư cách cá nhân. Tách khỏi thân thể là hành động đầu tiên để độc lập về tinh thần, tư tưởng. Nhưng đấy cũng là một sự chủ động trong một tình thế bị động, như “một con cá/ đào ngũ khỏi chiếc đĩa”. Dẫu sao, đấy cũng là lựa chọn không thể khác của “nàng” trong vận động đời sống và lịch sử, trong nhận thức của một tác giả nữ hiện đại.

Thân thể của tôi - một người nữ - trong mắt Thúy Hạnh, có hai đặc điểm khá nổi bật. Thứ nhất là rất nữ tính, diễm lệ: nghiêng một phím môi hồng/… thở dài một suối tóc (phòng trống đêm ba mươi[3]); mắt em dài liễu rủ/…  da nâu khẽ thở (hồ Vân Nam); gương mặt em như căn phòng/ Anh mở vào trong trắng/ anh lao đao trên thuyền em đôi mắt Ấn (thương em Hà Nội nắng);… Và giàu màu sắc văn chương, thi ca, đặc biệt là thi ca phương Đông. Nhiều hình ảnh thơ như bước ra từ trong thế giới cổ thi: bóng hạc bay qua trăng/ Điêu Thuyền cưới Lã Bố/ Tây Thi đi giặt lụa/ cá nuốt sợi tóc/ đêm về tương tư (bờ cổ); những ngón tay như nụ hoa bé nhỏ/ xòe nở âm ngữ/ nước hát Đường thi/ liễu múa Tống từ (Thanh minh)… Thân thể ấy thường gắn liền với những trải nghiệm và cảm giác cá nhân đau đớn, u uẩn: những ngón tay rũ rượi/ trên những phím tóc xanh (và ngồi một mình); nhan sắc nở thành đóa tươi thắm/ rụng xuống đất từng cánh cô đơn (nhan sắc); chữ rầu bóng tối/ thân thể đau vết thương bụi (đường sinh tử lời); thân thể tôi lạnh buốt tiền kiếp/ tôi nôn ra nỗi cô đơn của mình (đêm, hoa hồng và chiến tranh);…

Xem thân thể như một xuất phát điểm ý tưởng, thơ Thúy Hạnh bộc lộ một khả năng suy tưởng trừu tượng khá sâu sắc trong khi vẫn đảm bảo tính chất cảm tính, cụ thể của hình tượng. Trong mưa Lĩnh Nam, chân dung “giai nhân cỏ dại”, với “nghìn nụ hôn dao cứa”, với sắc trắng cụ thể từ trắng môi-răng-tóc-da-ngực… đến sắc trắng siêu hình trắng xương-thịt-tử vi-số-phận, giữa một không gian “mưa tốt máu tươi” đầy Liêu Trai, như một suy nghiệm khái quát và ám ảnh về thân thể-đời sống người nữ:

Đêm nay ta bói Đường thi

cỏ Lĩnh Nam buồn rối tóc em lùa

nghìn nụ hôn dao cứa

anh hôn em

môi trắng

răng trắng

tóc trắng

da trắng

ngực trắng

tràn thân thể trắng

trắng sinh lời

ngón tay trắng

bàn chân trắng

xương trắng

thịt trắng

tử vi trắng

số trắng

phận trắng

tzắng Man Nương

anh yêu em mộng khép không thành

mái tóc em một cầu

   vồng gãy

anh yêu em giai nhân cỏ dại

Lĩnh Nam mưa tốt máu tươi.

                  (mưa Lĩnh Nam)

Nỗi đau đớn, cảm giác bất trắc, tuyệt vọng, trống rỗng thường trở đi trở lại trong thế giới tinh thần của chủ thể. Đó là một tâm hồn nhạy cảm, dễ dàng bắt sóng và cộng hưởng với nỗi đau của tha nhân, của những cảnh đời khốn cùng, như bão qua sa mạc, tuyết trộn lẫn cùng nham thạch/ như đứa trẻ bị giật khỏi bầu sữa, từng giọt sống bị đánh cắp/ như ngôi làng bị tàn sát gió dựng dậy tro than… (thanh xuân ẩn ức). Bài thơ Đàn bà khá đặc biệt trong hình thức tạo hình, những câu thơ lục bát được chia đôi, xếp theo hàng dọc, có thể đọc từ trên xuống, từ trái sang phải hoặc ngược lại và đều có thể tạo nghĩa (hình thức trình bày này gợi tôi nhớ đến một số bài trong Bến lạ của Đặng Đình Hưng hoặc Chữ cái của Từ Huy). Có lẽ, cách đọc thơ đặc biệt đó - soi chiếu, lật trở văn bản từ nhiều góc độ - cũng là cách nhằm nhấn mạnh hơn cảm thức cát bụi phận người/ cát bụi tả tơi/ cát bụi đàn bà

Tình yêu của cái tôi này có mãnh liệt, sâu sắc không? Tôi nghĩ là có, nhưng nó được thể hiện theo một cách khá khác biệt so với nhiều tác giả cùng thời. Viết về tình yêu của tôi, nhưng thơ Thúy Hạnh rất ít bộc bạch xúc cảm trực tiếp. Chị thường quan sát và mô tả một cách khá bình thản về các sự việc và trạng thái tình yêu. Chị thể hiện một sự chú tâm gần như tuyệt đối, và một óc tưởng tượng gần như siêu thực, khi vừa sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện thực vừa sẵn sàng tách mình hoàn toàn khỏi đó, như một kẻ khác, ngoài tôi:  

Ksana

lưỡi anh lùa miệng em

chậm rãi

hôn

như cách thăm dò chiều sâu vết thương

thế giới  

Trong cái nhìn thản nhiên, điềm tĩnh này, tình yêu có thể hiện lên rất xa lạ - như tên của một bài thơ:

Họ yêu nhau họ yêu nhau bằng mắt

Họ yêu nhau

Họ yêu nhau bằng tóc

Họ yêu nhau như bụi yêu dấu chân như lông ngỗng yêu vết máu

Họ yêu nhau

Như xa lạ yêu nhau

                  (xa lạ)

Trải nghiệm tình yêu là trải nghiệm thân thể đồng thời là trải nghiệm nhận thức. Mỗi một satna là một trạng thái tồn tại và chuyển hóa của muôn vàn trạng thái xúc cảm đối lập. “Lắng nghe”, “mở tìm và sắp xếp” tình yêu bằng giác quan cùng lí trí và phiên dịch, tái sinh nó bằng ngôn từ là một khoái cảm sâu xa, thầm kín của cái tôi trữ tình:

Chúng tôi nằm bên nhau, sau tấm rèm của một bài thơ

mở tìm và sắp xếp

ý nghĩa của cơ thể

lắng nghe

 

sự cọ xát

nhịp điệu khô hoặc ướt, những chuyển động từ không gian khác

 

tất cả diễn ra

trong một tồn tại yên tĩnh

                  (Những bản dịch)  

Đúng là tình yêu trong thơ Thúy Hạnh thường diễn ra “trong một tồn tại yên tĩnh”, trong sự chú tâm hướng vào những rung động bên trong của cá nhân. Tương tự tình yêu, cái chết - như một đối tượng trữ tình - cũng được quan sát trong sự gián cách, trong một thái độ “ngắm nhìn” nhẹ nhõm và bình thản. Cái chết “luôn là động từ chia ở thì tương lai gần” và do đó:

Tôi ngắm nhìn cái chết của mình

Rất trắng

Và rất trong

Lòng thơm như gió đi qua vườn hồng

                  (Mùa xa vẫy gọi)

Ý thức về mình như một người nữ luôn đi cùng với ý thức về người nam, cụ thể ở đây là với “anh”, một người tình (mà cũng có thể hiểu là đại diện cho giới còn lại). Nó hình thành như một quá trình, đi từ cảm giác phối thuộc (bẻ xương sườn), hình thành nên ẩn ức “tìm người che chở cho nỗi đau của mình” (Thanh xuân ẩn ức), đến một cái nhìn bình đẳng hơn, bao dung hơn, về vai trò cũng như sự cần thiết của nhau trong đời sống và nhịp vận hành vũ trụ:

Em anh Anh em chúng ta

thở vào: mở cuốn bách khoa đêm

thở ra: anh tra toàn thư em

                  (Bốn mùa)

Cái tôi của Thúy Hạnh là một bản thể khá phức tạp, chứa đựng “nhiều khả thể sống trong tôi” với không ít mâu thuẫn, nghịch lí, nhưng luôn tự ý thức và giàu tinh thần phân tích. Một điều khá thú vị là, trong nhiều bài thơ của Thúy Hạnh, nhân vật trữ tình có thể hiện diện trong vai nam giới và sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất - Anh, ví dụ: Anh chờ em mùa thu/ nói rằng sẽ gửi cho anh/ một email khi nỗi nhớ tràn vực chữ/ cơ thể anh đã chất đầy mưa úa… (Email). Việc “nhập vai” để quan sát thế giới và đời sống của chính mình bằng điểm nhìn nam giới, khiến tác giả có thể mở rộng nhận thức, cảm giác và kinh nghiệm tồn tại một cách khá tự nhiên trong khả thể giới đối lập.

Với Thúy Hạnh, ý thức về mình như một người nữ luôn gắn liền với ý thức về mình như một người viết, người sáng tạo chữ. Bằng việc thực hành chữ/ ngôn ngữ, chị cũng đồng thời kiến tạo nên căn cước tinh thần của chính mình: hồn ma ngôn ngữ thở than/ máu rơi đầy trên trang viết mỗi đêm (m-ắ-t). Có thể không hẳn ngay từ đầu điều này đã được tác giả ý thức một cách trọn vẹn, đầy đủ, tuy vậy, dường như càng ngày tác giả càng nhận ra ý nghĩa, giá trị của chữ với chính mình. Không chỉ là công cụ hay dấu hiệu nhận diện, chữ là một thực hành tồn tại của cái tôi Thúy Hạnh:

không ai có thể giết tôi được, tôi tự vệ bằng từ

tôi cắt tóc mình chôn dưới cổng thành, chôn thật sâu một hoang tưởng tử tế một trùng trùng yêu thương một đẹp dị biệt

tôi kì quái thê lương chân đạp tung chật hẹp

tôi thở bằng ngôn ngữ khác, tôi xới hành trình khác, tôi mặc một thế giới khác, tôi cầm tay những người lạ mặt.

đám ma tôi quan tài chất đầy sách, thân thể tôi liệm bằng chữ, chữ cười buôn buốt: mi sẽ cô đơn cho đến chết, chúng ta đi theo mi dù mi muốn hay không

                            (I---------I)

Không phải tác giả làm thơ sẽ trở thành nhà thơ. Chính hành động làm thơ và ý thức về hành động ấy mới khiến chị trở thành một tác giả như đang là. Thực ra ý thức kiến tạo căn tính sáng tạo qua/ bằng chữ của tác giả cũng là một quá trình, với không ít lưỡng lự, bi phẫn, thậm chí cảm giác chối bỏ: “Bước qua dục vọng, nhìn xuống đáy giếng thân phận, tôi biết mình chỉ là một giai nhân cỏ dại, một loại rác sạch, một gương mặt chữ” (Di chữ). Nhưng nói cho cùng, chữ, thơ hay sự sáng tạo, ít nhất cũng đã đem lại cho tác giả một điểm tựa, một lối thoát, trong ý thức về sức mạnh lẫn sự cô đơn tuyệt đối của nó.

Nhìn trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, quan niệm về chữ hay những tìm tòi theo hình thức thơ thị giác của Thúy Hạnh không phải là một sáng tạo đột xuất. Có thể nhìn thấy sự ảnh hưởng và kế thừa của Thúy Hạnh trong quan niệm về chữ, về thơ-chữ, thơ-hình họa, thơ-nhạc của các tác giả đi trước như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường… Nhưng nếu Trần Dần đặt chữ trong mối quan hệ với nghĩa, coi trọng sự tạo sinh nghĩa của chữ; Lê Đạt chú ý tính biểu tượng và liên văn bản của chữ; Dương Tường chú ý đến tính nhạc của chữ; thì Thúy Hạnh quan tâm đến bản thể chữ trong sự song trùng với bản thể người nữ sáng tạo. Đây cũng là sự khác biệt căn bản giữa thơ Thúy Hạnh và thơ Nguyễn Thị Từ Huy (tác giả tập thơ Chữ cái), dù cả hai cùng quan tâm đến phương diện chữ/ ngôn ngữ thơ. Nếu Từ Huy chủ yếu quan tâm đến chữ chủ yếu ở góc độ cấu trúc và cơ chế tạo hình/ nghĩa thì Thúy Hạnh quan tâm chữ chủ yếu ở trên phương diện giá trị và ý nghĩa hiện sinh của nó.

Sự suy tư vừa là cái được biểu đạt, vừa là cái/ cách biểu đạt. Nó tạo nên nhịp điệu chậm rãi, của kiểu lời tự nói với mình, rất phù hợp với thể thơ tự do mà Thúy Hạnh thường chọn. Nó tạo nên một trường không khí, một mĩ cảm nội tại ám ảnh, vừa mới hé mở đã chực khép vào bóng tối nội tâm. Tôi tạm gọi đó là, theo cách diễn đạt của tác giả, một tự sự im lặng. Đó là tiếng nói lặng thầm cất lên trong thế giới của căn phòng riêng, trong ý thức về sự bất trắc, vô minh của đời sống, của lịch sử và sự mong manh của thân phận cá nhân và ngòi bút:

người đứng câu những văn bản người

tôi lột bỏ những chiếc vảy tham vọng

thấy lạnh run một thân thể sống

chặt làm ba khúc

kiếp này. kiếp sau. kiếp trước

tôi ngồi trên bờ ăn vết thương

 

đêm đêm

nghe tiếng gõ chậu của Trang Tử

bộ xương cá nằm trên giường thở

vảy mọc trên da thịt tôi

                  (cá)

Một khi tự thu mình lại trong sự chiêm nghiệm nội tâm, tự đầy đủ trong/ bằng đời sống ấy, thơ không thuần túy là trữ tình mà trở thành sự suy niệm, phản tư về chính sự trữ tình. Đấy là một thế giới đầy ám ảnh về sự hư vô, bất trắc, tàn hoại, thương tổn. Đấy cũng là một thế giới tâm linh u tối, bí ẩn, được cộng hưởng bởi những hình ảnh siêu thực, dị thường của cõi Liêu, mưa tươi máu tốt, tiếng khóc của thịt xương, giấc mộng Trang Chu, những câu thơ điên cuồng Lí Hạ, thế giới biến dạng của Kafka, cảm giác Sysiphus, hay những ảo mộng đau đớn chập chờn… Cảm giác điêu linh, ma mị, buồn thương vây bọc thế giới thơ. Chính ở đây, xuất hiện vô số liên văn bản triết học, tôn giáo, nghệ thuật… được cài cắm trực tiếp hoặc gián tiếp, trong cả ý tưởng, ngôn từ và chi tiết, hình ảnh.

Thơ Thúy Hạnh gợi ý cho tôi về trò chơi của người sáng tạo với cái bóng của mình trong hang động Platon. Ở đó, lửa của ẩn ức, của nỗi cô độc, của cảm giác hiện sinh phi lí hắt sáng lên vách đá lặng im. Ở đó, chữ không chỉ là công cụ, phương tiện mà là tiếng nói của một cuộc đời, một số phận bị lưu đày trong kiếp chữ. Thơ Thúy Hạnh là lời tự sự, ôm mang của một thân phận chữ nghĩa. Nó khóa chặt và bung nở trong chính sự cô độc: một thân xác chia tách, mở ra/ tiếng nói này và tiếng nói khác (Thất ngữ/ cuộc tìm tiếng). Nhưng cũng trong thơ của chị, người ta thấy vọng âm của nhiều chiều kích tiếng nói, nỗi đau, sự oan khốc và những ám ảnh bi kịch trong đời sống lịch sử, văn hóa, thi ca, của nhân loại. Chính ở đây, chữ hiện lên với tất cả tính chất mong manh, phi lí và định mệnh oan nghiệt của kiếp chữ, kiếp người. Dường như nội tâm của tác giả là một hộp cộng âm đặc biệt bén nhạy với cái đẹp, nỗi đau, sự thương  tổn và do đó, dễ dàng bắt sóng và cộng hưởng, khuếch đại những tín hiệu nằm trong trường thẩm mĩ này. Kể cũng hơi lạ, bởi Thúy Hạnh là người phụ nữ hiện đại, sống trong thời hiện tại, với nghề nghiệp là một nghiên cứu viên văn học, vốn đòi hỏi sự phân tích lí trí tỉnh táo, nhưng thơ chị lại thể hiện một tiếng nói vô thức, trực giác hết sức mãnh liệt.

Bằng chữ/ thơ, tác giả thực sự đã tạo được một khoảng gián cách đặc biệt giữa tâm tưởng và đời sống. Đó là một khoảng trống mênh mông của nỗi cô đơn, đời sống dường như không chạm được vào thế giới tinh thần khép kín ấy, nhờ vậy mà nó giữ được tính chất độc lập cần thiết. Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc con người sẽ phải chấp nhận ôm trọn nỗi đau của riêng mình: thập giá thơ/ treo những cơn đau/ kéo dài nghìn năm/ mỏi thân xác tôi/ những câu thơ chữ thập (mỹ dạ ngâm). Trong quá khứ, Thúy Hạnh từng từ chối thơ bởi ám ảnh thi sĩ là kẻ “chung sống với những gãy đổ”. Giờ đây, việc trở về với thơ đã cho chị sức mạnh nội tại để chống lại chính sự gãy đổ.

Tuy nhiên, nếu ở Di chữ, tính chất cảm tính, cụ thể tạo nên vẻ diễm lệ hồn nhiên của hình tượng thì sang đến Văn học vết thâm, ý thức khái quát hóa cùng việc gia tăng sự suy tưởng về ý niệm trừu tượng khiến tính hình tượng bị thuyên giảm. Ý niệm có phần lấn át hình ảnh, cảm xúc. Những tìm tòi theo hướng tạo hình chữ, trong một số bài, cũng bộc lộ tính sắp đặt và xu hướng đẽo hình gọt ý. Một khi tập trung vào chữ, mải miết trong cuộc đối thoại tâm tưởng với kí hiệu ngôn ngữ, điều này sẽ khiến thơ Thúy Hạnh trở thành một giáo đường cá nhân, ở đó, chữ và cái tôi nhà thơ mê mải trong cuộc lữ còn phần lớn độc giả sẽ phải đứng ngoài cánh cửa đã khép.

Thơ Thúy Hạnh chạm vào tôi, không phải ở việc “mặc mới một mùa chữ” với những tách nhập, ghép nối hoặc tạo hình câu chữ, văn bản đôi khi có vẻ khá kì khu. Nó chạm vào tôi bởi cảm giác vừa thuần khiết vừa giằng xé, bất an của chữ. Sau cùng, bằng việc chọn hiện diện, ít nhất, nó vẫn đánh động niềm hy vọng nhỏ nhoi về những “con chữ cưu mang”, giúp con người nhìn thấy những đám mây bay, ngay dưới vực thẳm. 

                                                                            Vinh, 12/6/2026

                                                                                    L.H.Q.

 



 



[1] Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh sinh năm 1987, hiện sống và viết tại Hà Nội. Tác phẩm đã xuất bản: Di chữ (Nxb Hội Nhà văn, 2017); Văn học vết thâm (Nxb Hội Nhà văn, 2021).

[2] Nhân bàn đến ý nghĩa câu chuyện trong Sách Sáng thế về Adam và Eva, Simone de Beauvoir viết: “Nhân loại là đàn ông và đàn ông định nghĩa phụ nữ không phải bằng bản thể phụ nữ mà trong mối liên quan với anh ta; phụ nữ không được xem lại một thực thể độc lập”. Simone de Beauvoir (2025), Giới thứ hai, Bảo Chân, Như Phong dịch, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, trang 13.

[3] Tên một số bài thơ không viết hoa chữ cái đầu tiên. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét