Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Đọc thơ như thế nào?

                          ĐỌC THƠ NHƯ THẾ NÀO?



                    Lê Hồ Quang

Với tôi, đọc thơ là một sở thích cá nhân. Trong tư cách độc giả, tôi không tìm kiếm điều gì hơn ngoài việc nhờ thơ chia sẻ, giải tỏa tâm trạng, cảm xúc của mình. Cái hay của thơ, do vậy, được định nghĩa bằng việc nó thiết lập nhanh hay chậm sự đồng cảm, mức độ sâu sắc của ẩn dụ và khả năng khêu gợi cảm giác, cảm xúc nhờ vào những từ “hay”, “đắt”, nói theo cách giáo khoa thư. Nhưng càng ngày, cùng với việc phải tìm hiểu sâu hơn về thơ, tôi càng phải đối mặt nhiều hơn với những câu hỏi. Bài thơ này có hay không? Câu hỏi quen thuộc ấy hóa ra lại là khởi đầu của rất nhiều câu hỏi phức tạp khác. Nhưng thế nào là một “bài thơ hay”? Và hơn thế nữa. Thế nào là thơ? Đâu là ranh giới phân định cái gọi - là - thơ và cái không - phải - thơ? Cái gì thực sự tạo nên “tính thơ”?... Vấn đề càng nảy sinh khi ta tiếp xúc với các hiện tượng cụ thể, nhất là thơ hiện đại [1]. Có lẽ chưa bao giờ quan niệm về thơ/ tính thơ lại xa nhau đến thế. Cùng với điều đó, có quá nhiều cách đọc khác nhau, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, khiến câu trả lời về nghĩa và giá trị của tác phẩm càng khó tìm được điểm chung.

Tuy nhiên, cũng từ thực tế ấy, tôi nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc một bài thơ có hay hay không. Đằng sau câu hỏi về giá trị của một bài thơ còn có một câu hỏi khác: người đọc đã dựa vào đâu để đưa ra đánh giá của mình? Ấn tượng thẩm mĩ ban đầu có thể là điểm xuất phát, nhưng chưa phải là một cách đọc. Cảm giác về cái hay, cái dở của tác phẩm có thể rất thật, nhưng tự nó chưa tạo thành một lập luận thuyết phục. Đọc thơ đối với tôi, vì thế, dần trở thành một quá trình nhận thức, đi từ cảm nhận đến tự vấn, từ trực giác đến phân tích, từ phân tích đến diễn giải và từ diễn giải trở lại với văn bản và với vấn đề cách đọc. Tôi cho rằng, muốn đọc hiệu quả, cần có một tư duy cởi mở, gắn liền với tinh thần trách nhiệm, với ý thức rằng văn bản nghệ thuật có thể không chỉ có một cách tiếp cận; rằng ý nghĩa không phải lúc nào cũng hiện ra như một thông điệp có sẵn; rằng người đọc phải chịu trách nhiệm về những gì mình diễn giải; và rằng mọi diễn giải có sức thuyết phục đều cần trở lại với những dấu hiệu cụ thể của văn bản để được kiểm chứng.

Về điều này, xin được nói thêm như một lưu ý nhỏ về phương pháp luận, dù vấn đề không mới. Ta biết rằng giữa tư duy độc giả và tư duy nghệ sĩ không phải lúc nào cũng gặp nhau, ngay cả trong trường hợp người viết đồng thời là người đọc. Trong khi một số nhà thơ thường có xu hướng đồng nhất mình với nhân vật trữ tình thì độc giả có thể chỉ quan tâm đến tác phẩm như một cấu trúc thẩm mĩ tự thân. Do đó, sự “lệch pha” giữa sự viết (của nhà thơ) và sự đọc (của độc giả) là điều hiển nhiên. “Đọc sai” trong trường hợp này chỉ có nghĩa là đọc không đúng với “thông điệp” mà tác giả có ý thức gửi gắm (và có thể được tác giả xác nhận), nhưng hoàn toàn không sai nếu nhìn từ quan niệm đọc - diễn giải tác phẩm, một khi sự diễn giải đó là có cơ sở. Vấn đề vì thế không chỉ là "đọc đúng" hay "đọc sai", mà là đọc có căn cứ đến đâu. Một cách đọc khác với ý đồ của tác giả, khác với cách hiểu quen thuộc, vẫn có thể đứng vững nếu người đọc chỉ ra được những minh chứng xác đáng trên văn bản, làm điểm tựa cho cách hiểu ấy. Sự tự do của diễn giải không đồng nghĩa với sự tùy tiện của diễn giải. Người đọc được quyền đặt ra giả thuyết về ý nghĩa, nhưng phải chấp nhận rằng văn bản có quyền giới hạn và điều chỉnh giả thuyết ấy.

Dĩ nhiên, một thái độ và tư duy đọc như vậy không dễ có ngay từ đầu. Nó có thể hình thành từ những tri thức lí thuyết khi ta học/ đọc, và chắc chắn sẽ thay đổi, mở rộng khi tiếp xúc với các hiện tượng thơ đa dạng. Cùng với những trải nghiệm đời sống, lịch sử, văn học, điều đó giúp ta dần hình thành những nhận thức, quan niệm ngày một sâu sắc và rộng rãi hơn về thơ. Đương nhiên, cùng với thơ là nhiều vấn đề khác nữa. 

Cũng như phần lớn bạn đọc, trước đây, tôi thích thơ lãng mạn, thuộc nằm lòng nhiều bài thơ viết theo thi pháp truyền thống, nghĩa là truyền cảm trực tiếp và giàu tính nhạc. Việc tiếp xúc với nhiều hiện tượng thơ mới, khó, buộc tôi dần phải thay đổi, mở rộng quan niệm thẩm mĩ và mĩ cảm cá nhân. Điều này không phải không khó khăn. Trong quá trình đọc, tôi thường xuyên phải dừng lại nghi ngờ, phản bác, chất vấn chính mình: Đây/ thế này mà là thơ ư? Liệu mình đã đọc đúng/ đọc có căn cứ chưa? Đâu là ranh giới giữa một bên là đọc đúng và bên kia là sự suy diễn tùy tiện? Đâu là cơ sở, giới hạn của việc đọc/ diễn giải? v.v. Đọc thơ, như vậy, đồng nghĩa với việc phải liên tục đối diện với những câu hỏi mang tính phương pháp luận đầy hóc búa.

Thường thì thơ  - trong sự phân biệt với văn xuôi - thể hiện khá rõ những đặc trưng thể loại của nó, đó là tính xúc cảm, tính nhạc, và sự hàm súc, khêu gợi. Một bài thơ hay, có giá trị thẩm mĩ, thường có khả năng gây ám ảnh, xúc động mạnh mẽ. Nhưng bên cạnh tính thể loại, thơ còn có tính loại hình và loại hình lịch sử. Cái gọi là đặc trưng loại hình này, trên thực tế sáng tác, cũng biểu hiện đậm nhạt khác nhau. Một khi có sự tham gia của người đọc, tiêu chuẩn về thơ và giá trị thơ, như đã nói trên, càng trở nên khác biệt, thậm chí đối lập gay gắt.

Bám sát vào văn bản, lấy văn bản làm căn cứ chính để lí giải, đánh giá, đó là một nguyên tắc đọc của tôi. Tuy nhiên, bám sát văn bản không có nghĩa là chỉ trích dẫn thật nhiều câu chữ. Điều quan trọng là chỉ ra được quan hệ giữa dấu hiệu được lựa chọn và nhận định, đánh giá rút ra từ nó. Một diễn giải càng xa rời điều văn bản nói trực tiếp thì càng cần nhiều bước lập luận trung gian và càng cần được kiểm chứng bằng những dấu hiệu khác. Khi những dấu hiệu không đủ sức chứng minh giả thuyết, người đọc cần chấp nhận thay đổi hoặc điều chỉnh cách hiểu của mình.

Khi đọc thơ, đương nhiên tôi chú ý đến cách tác giả sử dụng từ ngữ, hình ảnh, tu từ, nhịp điệu. Nhưng đồng thời, tôi đặc biệt quan tâm tới cấu trúc tổng thể của văn bản, bao gồm các yếu tố nội tại như câu - đoạn - bài - tứ thơ và những yếu tố nằm ngoài văn bản nhưng có mối quan hệ chặt chẽ như tác giả, bối cảnh văn hóa, lịch sử... Nhưng thay vì cố gắng “giải mã” ý đồ/ thông điệp tác giả từ các đặc điểm hình thức bề mặt hoặc các yếu tố văn hóa, lịch sử, tôi cho rằng, văn bản là một cấu trúc tạo nghĩa và đọc là hành động lí giải cơ chế tạo nghĩa cũng như lí do vì sao nó có thể tạo sinh nghĩa này chứ không phải nghĩa khác. Theo đó, nghĩa/ nội dung không phải là yếu tố có sẵn, tồn tại ngoài văn bản, được áp đặt máy móc, cơ học vào văn bản. Nó tiềm tàng trong cấu trúc của văn bản ngôn từ và được hiện thực hóa, cụ thể hóa qua hành vi đọc của độc giả. Đọc không chỉ nhằm tìm nghĩa hay ý nghĩa của văn bản mà còn là hành động tìm hiểu cơ chế tạo nghĩa của cấu trúc ngôn ngữ. Do đó, thay vì logic hỏi quen thuộc (thường bắt đầu từ nội dung sau đó mới đến hình thức chuyển tải, ví dụ, văn bản này nói gì? Nó nói bằng cách nào?), hành động đọc này bắt đầu theo một logic hỏi ngược lại – từ hình thức đến nội dung: văn bản này có gì đặc biệt về ngôn từ và hình thức? Cách tổ chức ngôn từ và hình thức ấy tạo ra nghĩa (nội dung)/ ý nghĩa (giá trị) ra sao?... Trật tự này coi trọng sự trải nghiệm trực tiếp văn bản, xem đọc là quá trình phản hồi và kiến tạo của độc giả, và đương nhiên, đề cao mối quan hệ liên đới, tương tác giữa hình thức và nội dung văn bản trên tiến trình đọc. Từ góc nhìn này, nội dung gắn bó hữu cơ với hình thức, có tính chất “động” và “mở”, được kiến tạo ngay trong quá trình đọc của độc giả, không phải nhất thành bất biến.

Bên cạnh những thao tác phân tích lí trí, tôi học cách tin vào trực giác và dùng trực giác để đến gần hơn với tiếng nói của thơ. Đôi khi, một bài thơ bị xem là “khó hiểu”, “khó đọc” với nhiều người vẫn có thể đánh thức trong tôi một cảm xúc đặc biệt nào đó. Đó không phải là thứ cảm xúc trực tiếp, được giãi bày một cách rành mạch, tạo nên sự đồng cảm ngay lập tức như thường thấy ở thi phẩm lãng mạn, nhưng vẫn là cảm xúc thơ và không phải không gây cảm động tương tự. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi mức độ cộng cảm khá sâu giữa văn bản và người đọc. Sự kết nối, liên thông ấy nằm trong “mã đọc” nhiều khi khá cá biệt và riêng tư. Tuy nhiên, dù tin vào trực giác, tôi không dừng lại ở trực giác. Từ ấn tượng cảm tính ban đầu, tôi biến nó thành câu hỏi và quay lại văn bản tìm dấu hiệu, từ đó kết nối và diễn giải.

Xuất phát trên cơ sở văn bản, vận dụng linh hoạt nguyên tắc tiếp cận, diễn giải theo hướng thi pháp học, cấu trúc luận và mĩ học tiếp nhận, theo tôi, là một cách đọc thơ khá hiệu quả. Nó nhắc tôi chú ý đến cách tác phẩm được tổ chức: từ ngôn từ, hình tượng, giọng điệu đến kết cấu và quan hệ giữa các thành tố. Nó không cung cấp sẵn một đáp án cho bài thơ, mà giúp đặt những câu hỏi cụ thể hơn về cách bài thơ tạo nghĩa. Đồng thời, nó cũng tạo cho tôi những điểm tựa phương pháp luận cần thiết về góc nhìn và cách tiếp cận văn bản. 

Khi đọc thơ, tôi thường bắt đầu từ những thao tác rất đơn giản và quen thuộc. Trước hết là đọc kỹ văn bản. Đọc và cố gắng ghi nhớ những cảm giác, cảm xúc trực tiếp, tức thì khi tiếp xúc với văn bản. Góp nhặt chúng lại, khái quát thành ấn tượng chung, chẳng hạn thích/ không thích; hay/ dở; vui/ buồn/ buồn cười... Triển khai lý giải bằng cách đặt câu hỏi, đặc biệt là loại câu hỏi vì sao. Đừng coi thường trực giác. Với người đã có kinh nghiệm và tri thức đọc, trực giác có thể giúp nhanh chóng nhận ra một điểm bất thường, một nhịp điệu, một hình ảnh hoặc một quan hệ ngôn ngữ đáng chú ý. Nhưng trực giác chỉ là tín hiệu mở đầu của quá trình đọc, không phải bằng chứng tự thân. Nó đặt câu hỏi và văn bản phải kiểm chứng, trả lời câu hỏi ấy.

Tiếp đến là phân tích các yếu tố ngôn ngữ và cách tổ chức văn bản. Chẳng hạn, tôi thường quan tâm đến nhan đề bài thơ như một chỉ dẫn, gợi ý. Thông thường, đó sẽ là chỉ dẫn về chủ đề hoặc hình tượng trung tâm. Nó kết nối với toàn bộ cấu trúc văn bản ở phía sau, từ các yếu tố như lời đề từ, câu chữ, hình ảnh, biểu tượng, khổ, đoạn, ý thơ, tứ thơ... Tôi đặc biệt chú ý tới sự lặp lại của một số dấu hiệu hình thức. Chúng thường không ngẫu nhiên (trừ khi đó là lỗi trong diễn đạt - lỗi lặp) mà có thể liên quan tới những vấn đề quan trọng hơn, như chủ đề, cảm hứng, quan niệm mĩ học… Đó là một dấu hiệu thẩm mĩ cần để mắt. Hãy đặt câu hỏi về chúng. 

Cũng cần chú ý khai thác các yếu tố bên ngoài, có mối liên quan với văn bản. Các yếu tố ngoài văn bản khá đa dạng. Đó có thể là những thông tin về tác giả (tiểu sử, sự nghiệp, quan niệm sáng tạo...) hoặc bối cảnh lịch sử, chính trị - văn hóa… tương ứng. Bối cảnh này cung cấp căn cứ để ta hiểu sâu thêm về tác phẩm, định vị chính xác hơn về giá trị của nó. Hoặc đó là các lý thuyết văn học, đóng vai trò điểm tựa phương pháp luận, cung cấp, gợi ý, hỗ trợ hướng tiếp cận, lý giải văn bản. Dĩ nhiên, chỉ nên sử dụng nếu ta thấy chúng có mối liên hệ với văn bản và việc sử dụng thực sự đem lại hiệu quả đọc hiểu.

Và thao tác cuối cùng - ghi chép lại. Ghi chép là một cách để chính xác hóa những ấn tượng, nhận thức nảy sinh trong quá trình đọc. Đồng thời, chính trong quá trình ghi chép, nhiều ý tưởng mới sẽ xuất hiện, khiến việc khám phá văn bản trở nên hứng thú. Viết và đọc là hai hoạt động tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Tôi tin việc thực hành đọc và viết thường xuyên sẽ giúp tăng cường kiến thức, kĩ năng và hình thành phương pháp tư duy cần thiết.

Bây giờ, tôi sẽ lấy một vài ví dụ trong thơ Việt Nam hiện đại để làm sáng tỏ một số điều ở trên. Hãy bắt đầu bằng một bài thơ của Lê Đạt:

Bóng chữ

Chia xa rồi anh mới thấy em

Như một thời thơ thiếu nhỏ

Em về trắng đầy cong khung nhớ

Mưa mấy mùa

                                       Mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Em vẫn đây mà em ở đâu

 

Chiều Âu Lâu

                             Bóng chữ động chân cầu

Hãy đặt mình vào vị trí của độc giả lần đầu đọc Bóng chữ.  Sự tiếp xúc với văn bản chắc chắn sẽ làm nẩy sinh hàng loạt câu hỏi, chẳng hạn: Bóng chữ là gì? Bóng chữ có liên quan gì đến chủ đề và hình tượng trong bài thơ này? Tại sao “chia xa rồi anh mới thấy em”? Tại sao lại là “như một - thời - thơ - thiếu - nhỏ” mà không phải là “thời thơ ngây”, “thời thiếu nữ”, “thời thơ nhỏ”, những cách diễn đạt có nội dung tương tự nhưng quen thuộc và rõ nghĩa hơn?... Ở đây, trực giác ban đầu có thể chỉ là cảm giác rằng “bóng chữ" là một hình ảnh bất thường và đáng chú ý. Nhưng cảm giác ấy chưa đủ để trở thành một nhận định. Tôi phải trở lại với những dấu hiệu khác.  Khi đặt chúng trong quan hệ với nhau, “bóng chữ” không còn là một hình ảnh biệt lập mà dần trở thành một nút kết nối. Từ một ấn tượng ban đầu, việc đọc chuyển thành một giả thuyết về cách bài thơ tổ chức thế giới của nó.

Rõ ràng đó là cách “làm chữ” có chủ ý của Lê Đạt. Một mặt, tác giả tập trung vào hình tượng Em (đúng hơn là mối quan hệ anh - em) và thu hút sự chú ý của độc giả vào motip chủ đề tình yêu đã mất. Motip này gợi ra khá nhiều liên văn bản, chẳng hạn Đề tích sở kiến xứ của Thôi Hộ, Truyện Kiều của Nguyễn Du hoặc Cầu Mirabeau của Guillaume Apollinaire. Mặt khác, sự lặp lại cố ý của của cấu trúc hình ảnh “bóng chữ” (ở tên bài thơ và ở dòng kết thúc) đã bẻ lái cách hiểu bài thơ theo hướng mới: câu chuyện về Chữ, về Bóng Chữ - “phần tiền kiếp không được hóa giải của chữ… như cái bóng con thuyền Trương Chi thiếu nợ hò khoan mãi trong lòng chén nước Mỵ Nương” [2]. Đó là câu chuyện về tình yêu với CHỮ, với Sáng tạo của Lê Đạt.

Dĩ nhiên rất cần chú ý đến chủ đề của tác phẩm. Đấy là một phương diện nghệ thuật quan trọng. Tuy nhiên, chỉ riêng việc lựa chọn chủ đề chưa khẳng định được về giá trị của tác phẩm. Ta cần đọc sâu văn bản để tìm ra cái chủ đề được cấu thành trong/ trên cấu trúc bài thơ.

Hãy lấy bài thơ của tác giả Pháp Hoan viết về một chủ đề có tính phổ quát - sự sống và cái chết, để xem xét điều này rõ hơn.

Mùa xuân sau một cái chết

 

Một bông hoa đang nở ra trên cánh đồng

một bông khác nở ra từ kẽ đá

một bông khác trên ngọn đồi xa lạ

 

Trên nghĩa trang lạnh giá

bông hoa đầu tiên cũng đang hé nở

một bông khác

và một bông khác nữa

 

Và kìa sau tấm lưng tôi hàng loạt bông hoa thi nhau nở rộ

chúng làm tấm áo choàng của tôi nhanh chóng phồng lên

như cánh buồm trước gió

 

Rồi từ cuống họng tôi những bông hoa chui ra

những bông hoa khác từ đôi mắt tôi

từ đầu những ngón tay

từ đôi tai

từ lồng ngực...

chúng đang chiếm đoạt lấy thân thể tôi

chúng đang làm tâm tư tôi trở nên bấn loạn

 

Bất chợt tôi nhớ ra là mình đã qua đời vài năm trước đó

và tấm thân bây giờ là mảnh đất màu mỡ cho đám hoa lá mùa xuân

Bài thơ được triển khai từ điểm nhìn của kẻ đã chết, đã nằm dưới đất, nơi thân xác và đất đen hòa làm một và đang nhìn ngắm/ mô tả về đời sống. Có thể khai thác vô số ý nghĩa triết lý từ tứ thơ độc đáo này. Nhưng theo tôi, cái đáng quan tâm ở đây không phải là những triết lý quen thuộc về sự sống - cái chết (là điều có thể “đọc” ra ngay từ cái tên bài thơ) mà là sự xâm nhập, chuyển hóa giữa các yếu tố đối lập ấy, và hơn thế, là cách mô tả của nhà thơ về quá trình ấy. Chọn điểm nhìn quan sát từ bên trong, “tường thuật” lại các sự kiện, cảm giác cá nhân một cách rành rẽ, chi tiết, nhà thơ cho thấy quá trình chuyển hóa của sự sống và cái chết là một tất yếu, nó đến tự bên trong, tự nhiên và lặng lẽ đến đỗi khó có thể nhận ra. Qua điểm nhìn và cách kể ấy, cảm giác những bông hoa chui ra từ cuống họng, mắt, ngón tay, tai, lồng ngực... của kẻ đã chết, đã nằm dưới mộ, đồng thời cũng là nhân vật trữ tình đang xưng “tôi”, đang kể cho chúng ta nghe về những diễn biến cảm giác của anh ta, vốn là điều hết sức phi lý (xét theo logic thông thường), đã trở thành điều hoàn toàn hợp lý, không thể khác. Cái tôi nhận ra cảm giác sống ngay trong khi đang/ đã chết (và rất có thể ngược lại). Đó là một cảm giác/ nhận thức siêu nghiệm nhưng không thể sống động và thuyết phục hơn.

Chủ đề cái chết trong bài thơ của Pháp Hoan làm tôi nhớ tới bài thơ Nhẹ của Nguyễn Bình Phương. Khi dạy sinh viên, tôi thường che nhan đề bài thơ và yêu cầu họ đọc văn bản, sau đó đoán xem tên nó có thể là gì. Phần lớn các sinh viên của tôi đều nghĩ tới một cái tên: Chết (hoặc Cái chết). Điều này có lý do, đấy là do áp lực của cấu trúc lặp lại (từ “chết”) và sự xuất hiện của các yếu tố ám chỉ cái chết: ngôi sao đen, khu rừng ma, những con hươu ma, vĩnh biệt, ra đi... Tôi đã lưu ý họ về cái tiêu đề của bài thơ như một sự chỉ dẫn, nhắc nhở ngầm của tác giả. Điều này giúp họ kết nối với nội dung ý nghĩa đã được phát hiện trên bề mặt văn bản: bài thơ là một triết lý về cái chết theo kiểu Nguyễn Bình Phương. Phải, chết rất Nhẹ.

Chết làm sao ngôi sao đen

Nằm trên giường bình nhiên bí ẩn

 

Chết không thở cùng hoa

Thở cùng người đàn bà xa lạ

 

Ở trong khu rừng ma

Có những con hươu ma

 

Chết nở một nụ cười sáng nhẹ

Chẳng vĩnh biệt em chẳng tiễn biệt ai

 

Từ tốn mơ màng

Bông cải cúc ra đi

Như vậy, khi phân tích một bài thơ, ta cần phải chú ý đến phương diện kết cấu của nó. Đấy là cách tổ chức toàn bộ các yếu tố, cấp độ, đơn vị của bài thơ thành một chỉnh thể thống nhất. Trong thơ hiện đại, xuất hiện phổ biến kiểu kết cấu mở (một thuật ngữ quy ước, nhằm phân biệt với kiểu kết cấu đóng, có tính tĩnh tại, khép kín trong thơ truyền thống. Kết cấu mở gắn với sự đổi mới quan niệm về ngôn ngữ, chủ thể và quá trình sáng tạo của nhiều tác giả hiện đại). Với kiểu kết cấu này, tính liên tục của dòng cảm xúc và mạch liên tưởng bị phá vỡ, biểu hiện của cái tôi tác giả bị hạn chế, lời thơ nhiều khi trở nên đứt gãy, phi logic, mơ hồ. Tác giả có thể đồng thời hòa vào bài thơ nhiều mạch cảm xúc, liên tưởng khác nhau, tạo ra sự chồng lấn, trùng phức trong điểm nhìn, giọng điệu. Điều này rõ ràng gây khó cho tiếp nhận của độc giả. Nhưng mặt khác, nó trao quyền chủ động tối đa cho người đọc, cho phép họ tích cực tham gia vào hoạt động tạo nghĩa văn bản.

Bài thơ sau của Mai Văn Phấn là một ví dụ.

Ghi ở Vạn Lý Trường Thành

 

Mây xếp lên vai từng tảng đá nặng

nhòe mắt cát

thở đầy ngực cát

 

Vạn Lý Trường Thành còn xây dở?

Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ

Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ

đánh hộc máu mồm

Khâm thử!

 

Ngước lên gặp một khuôn mặt bì bì

tay lạnh, mắt chì, giọng mỡ

Mái Phong hỏa đài màu huyết dụ

hình thanh long đao dính máu đang kề cổ

 

Còng lưng đẩy nắng đi

Chồn chân đẩy gió đi

Miễn sao được gần bông hoa

đang mởn mơ trong gió lớn

 

Tâu hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí...

Bỉ chức/ thảo dân/ em

sẽ làm trọn bổn phận

 

Đây là đỉnh trời

hay đáy vực sâu

chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát

 

Mồ hôi du khách trên đá xám

nở thành hoa phù dung.

Cắt dọc bài thơ theo tuyến sự kiện, ta thấy có một hành trình hiện tại của du khách, hiển thị trên bề mặt văn bản: mây xếp trên vai/ nhòe mắt cát/ thở/ ngước lên/ mái Phong hỏa đài/ còng lưng/ chồn chân/ mồ hôi du khách trên đá xám. Song song với hành trình của du khách (trong hiện tại) là hành trình của những dân công khốn khổ vác đá xây Vạn Lý Trường Thành (trong quá khứ). Lớp nghĩa thứ hai xuất hiện ngay cạnh lớp nghĩa thứ nhất: từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn Lý Trường Thành còn xây dở/ Tiếng hoạn quan truyền chỉ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử. Ta còn có thể đọc ra lớp nghĩa thứ ba, khi xuất hiện đồng thời trên hành trình ấy chân dung một con người khá đặc biệt: “vừa vác đá vừa làm thơ”, “còng lưng đẩy nắng”, “còng lưng đẩy gió”, “miễn sao gần được bông hoa/ đang mởn mơ trong gió lớn”. Ấy là chân dung của nghệ sĩ, kẻ yêu cái đẹp, vì cái đẹp mà có thể bất chấp tất cả. Chân dung ấy gợi nhớ tới bao nhiều gương mặt thi nhân vĩ đại  trong nền văn hóa Trung Hoa lâu đời. Đó là một liên hệ bất ngờ nhưng có lí. Nhờ vào cấu trúc song hành, nhiều chiều kích không gian/ thời gian, quá khứ/ hiện tại… đan lồng vào nhau, kích hoạt những suy ngẫm đa chiều về con người và lịch sử. Song cũng đúng lúc ấy, cắt ngang mọi ảo tưởng, là sự đồng thanh, trùng điệp, nhẫn nhục của những giọng nói:

Tâu hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí...

Bỉ chức/ thảo dân/ em

sẽ làm trọn bổn phận

Trong khoảnh khắc, dường như cửa ngõ tất cả các chiều kích không - thời gian đã chập lại và mở thông sang nhau. Cùng lúc, ta thức tỉnh về sự lặp lại bi đát, thê thảm của thân phận con người, đặc biệt là thân phận kẻ sĩ/ trí thức trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, trong chế độ toàn trị, với sức mạnh tàn bạo hiện hình ở chính biểu tượng Vạn Lý Trường Thành.

Cách hiểu trên là một khả năng diễn giải xuất phát từ tổ chức ngôn ngữ và hình ảnh trong bài. Tuy nhiên, cần phân biệt điều văn bản xác nhận với điều người đọc suy ra. Việc đi từ những giọng nói đến vấn đề sự lặp lại của quyền lực là một bước diễn giải, vì thế, nó cần được xem như giả thuyết được nâng đỡ bởi hệ thống dấu hiệu của bài thơ, chứ không phải ý nghĩa duy nhất mà bài thơ bắt buộc phải có.

Khi tiếp cận bài thơ, ta có thể tùy vào đặc điểm đối tượng cũng như mục đích, nguyên tắc và sự nhạy cảm riêng của người đọc để chọn điểm/ góc tiếp cận. Không nhất thiết phải trình bày tất cả (điều này vừa không cần thiết vừa không thể) về các phương diện hình thức và ý nghĩa của bài thơ. Trên thực tế, cho dù bài thơ có được đánh giá là “tuyệt tác” đi nữa, giá trị nghệ thuật của nó không bao giờ chia đều cho tất cả các yếu tố. Tôi thường chọn một (hoặc một vài) yếu tố của tác phẩm để xác định điểm đọc. Đó không phải lựa chọn ngẫu nhiên. Những yếu tố/ chi tiết đó phải có khả năng liên kết với những yếu tố khác và giúp soi sáng một phần đáng kể của chỉnh thể. Phạm vi đọc vì thế có thể mở rộng từ bài thơ đến tập thơ, phong cách hay loại hình khi chính vấn đề đang đọc đòi hỏi.

Như vậy, cần phải quan sát điểm đọc ấy trong tính chỉnh thể. Trước hết, đó là chỉnh thể - bài, nhưng có khi rộng hơn, là chỉnh thể -  tập; hoặc hơn thế nữa, chỉnh thể phong cách tác giả hoặc loại hình thơ mà nó thuộc về. Chẳng hạn, khi đọc bài thơ Ghi ở Vạn Lý Trường Thành của Mai Văn Phấn, tôi sẽ phải xem xét nó kỹ hơn trong tương quan với những tìm tòi theo hướng hậu hiện đại trong tập Hôm sau. Cũng tương tự, để hiểu sâu hơn về Bóng chữ, tôi sẽ phải đặt bài thơ này vào “trường thơ” Lê Đạt, người tự nhận mình là “phu chữ” với quan niệm “chữ bầu lên nhà thơ” [3]. Điều đó giúp tôi hiểu Bóng chữ thực chất là một tuyên ngôn về thơ, về sự sáng tạo.   

Đọc thơ, cũng như tiếp nhận nghệ thuật nói chung, trên thực tế, chưa bao giờ là việc dễ dàng. Nhất là khi ta đứng trước những văn bản viết theo lối khác với truyền thống, bị xem là tối tăm, hũ nút hoặc tầm phào, vô nghĩa, thường bị gộp chung vào trào lưu “hiện đại”, và gần đây là “hậu hiện đại”. Sự thực thì thơ hậu hiện đại, cũng như thơ hiện đại chủ nghĩa và các loại hình thơ trước đó, đều có nguyên tắc, thủ pháp sáng tạo riêng, ưu điểm và nhược điểm riêng. Dẫu sử dụng những kỹ thuật viết giống nhau, có tác giả viết được những tác phẩm giá trị, có tác giả chỉ dừng lại ở những thử nghiệm thất bại. Khi đọc Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ tân hình thức của Inrasara, tôi phải tìm đọc lí thuyết hậu hiện đại để hiểu thêm về tư tưởng giải đại tự sự, góc nhìn ngoại biên và đặc thù của lối viết hậu hiện đại. Những tri thức này gợi ý hướng tiếp cận và giúp tôi nhận ra cái hay trong những sáng tác như Yêu nhau ba thì. Bài thơ, thực chất, là sự giễu nhại những đại tự sự như tình yêu, thơ ca, nghệ thuật... Trong nhãn quan hậu hiện đại, tác giả ý thức hơn bao giờ hết về sự sao chép, lặp lại, điều không chỉ có trong tình yêu, đời sống hiện thực, mà cả trong sáng tạo, lĩnh vực luôn đứng trước đòi hỏi phải làm mới. Ý thức ấy buộc anh ta phải viết theo cách khác, thực tế, tỉnh táo và hài hước:

Như là bản sao

chán quá đi mất, em nói

hay mình lao bừa vào nhau đi anh

 

Hay ta chia tay đi em

lại là thứ chia li không miếng nào đặc sắc

na ná trong phim, xa hơn: truyện cổ tích

& thì

đành yêu tạm thôi, mình nhỉ!

Tri thức thể loại và loại hình cũng giúp tôi tiếp cận và nhận ra điểm khác biệt trong lối viết của một số tác giả như Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Thế Hoàng Linh… Không chỉ khác về mặt kĩ thuật, họ còn khá khác biệt trong tư duy và cảm thức viết. Đành rằng khác chưa hẳn đã hay. Sự khác biệt trước hết có thể chỉ là một dấu hiệu của thử nghiệm hoặc đổi mới. Giá trị của nó còn phải được xem xét ở hiệu quả nghệ thuật, khả năng tạo ra một cách tổ chức mới có sức thuyết phục và đóng góp của nó đối với sự vận động của thể loại. Thế nhưng, ý thức tạo ra sự khác biệt và tìm kiếm khả năng biểu đạt mới vẫn là một yêu cầu hết sức quan trọng trong sáng tạo.

Tóm lại, ta chỉ có thể đánh giá chính xác về đóng góp, giá trị của các hiện tượng thơ (rộng ra là các hiện tượng nghệ thuật) khi xem xét, lí giải chúng trong hệ hình và bối cảnh mĩ học của chúng.

Như vậy, với tư cách độc giả, tôi cũng cần trang bị thêm tri thức về thể loại và loại hình thơ. Đấy là một điểm tựa phương pháp luận cần thiết. (Tất nhiên, lý thuyết loại hình chỉ là một trong vô số lý thuyết mà ta có thể vận dụng khi tiếp cận tác phẩm). Và đấy cũng là nói theo cách đơn giản nhất. Vì thơ hậu hiện đại là một hiện tượng phức tạp và quan niệm về nó ở cả những người lập thuyết và sáng tác cũng hoàn toàn không thống nhất. Hơn nữa, từ quan niệm của người sáng tác đến tác phẩm của họ nhiều khi là một khoảng cách rất xa. Nếu chỉ dựa trên cái khung lý thuyết để áp vào tác phẩm, nhăm nhăm tìm kiếm các dấu hiệu phù hợp trong văn bản để minh họa cho lý thuyết, chắc chắn sẽ dẫn đến áp đặt, gán ghép thô bạo. Cách đọc này chỉ hiệu quả khi lý thuyết được vận dụng hợp lý, thể hiện qua những nguyên tắc và thao tác tiếp cận, lý giải nhuần nhị, phù hợp đối tượng văn bản. Nghĩa là lý thuyết phải trở thành tri thức công cụ. Mặt khác, đọc theo các lí thuyết hoàn toàn không có nghĩa bỏ qua việc khảo sát, phân tích văn bản cụ thể.

Sau nhiều năm thực hành đọc và viết, đã hình thành ở tôi một thói quen tư duy và thao tác, đó là đọc từ “điểm khác thường” của văn bản. Tôi thường không bắt đầu bằng một hệ thống lý thuyết áp vào tác phẩm mà ngược lại, bắt đầu một chữ lạ, một hình ảnh lạ, một cấu trúc bất thường, một nghịch lý, một câu thơ gây “vướng”… Tất nhiên, không phải cái gì khác thường cũng có giá trị thẩm mỹ, không phải cái gì gây “vướng” cũng dẫn tới một cách hiểu có sức thuyết phục. Cái khác thường ấy chỉ trở thành điểm đọc ý nghĩa khi nó có khả năng liên kết với cấu trúc tổng thể và được các dấu hiệu khác của văn bản nâng đỡ. Từ ấn tượng ban đầu, chúng trở thành câu hỏi và gây áp lực đòi phải được trả lời. Để giải đáp những câu hỏi nhiều khi hết sức hóc búa đó, tôi không thể chỉ dựa vào tri thức văn bản cụ thể hay kinh nghiệm đọc (trên thực tế, chừng ấy là chưa đủ), mà còn phải huy động tri thức lí thuyết. Với tôi, khi đọc, lý thuyết là điểm tựa phương pháp luận hết sức quan trọng, nhưng lý thuyết có giá trị nhất là khi trở thành một công cụ đặt câu hỏi. Nó phải giúp nhận ra những gì văn bản thực sự có, đồng thời mở ra những khả năng nhìn nhận, lí giải mà trước đó tôi chưa thấy. Nếu lý thuyết chỉ khiến người đọc tìm trong văn bản những dấu hiệu phù hợp với một kết luận có sẵn, nó đã biến thành chiếc khuôn và làm nghèo việc đọc.

Những điều trình bày trên đây xuất phát chủ yếu từ kinh nghiệm đọc của cá nhân tôi. Vì thế, tôi không coi đó là một hệ thống phương pháp hoàn chỉnh hay một công thức có thể áp dụng cho mọi văn bản. Giá trị của chúng, nếu có, nằm ở chỗ giúp tôi tự ý thức rõ hơn những thao tác mình thường sử dụng khi đọc và qua đó nhìn thấy những giới hạn của chính cách đọc ấy. Đây cũng chỉ là một trong vô số những cách đọc (hết sức khác nhau) và sự đa dạng này là điều quá hiển nhiên trong tiếp nhận nghệ thuật. Theo một quan niệm mĩ học giờ đây đã trở nên quen thuộc, sự phong phú, đa dạng của cách đọc tạo nên sự phong phú về nghĩa/ ý nghĩa của văn bản, đưa văn bản trở thành tác phẩm. Sự khác biệt, đa dạng của cách đọc của độc giả, đặt trong mối quan hệ với sự viết/ cách viết của tác giả, chắc chắn cũng tạo nên sự tương tác, thúc đẩy tích cực, buộc người viết phải ý thức hơn trên hành trình tìm kiếm những giá trị sáng tạo mới.

Nhìn lại những bài viết trong cuốn sách này, tôi càng thấy rằng không có một quy trình cố định nào có thể áp dụng nguyên xi cho mọi văn bản/ hiện tượng thơ. Có khi một chữ, một hình ảnh đã mở ra đường đọc; có khi kết cấu, nhịp điệu hoặc giọng điệu mới là điểm xuất phát; có khi phải mở rộng từ bài thơ sang tập thơ, phong cách hoặc những tri thức ngoài văn bản... Nhưng tựu trung, văn bản luôn quyết định điểm xuất phát và phạm vi của việc đọc. Điều tôi gọi là “thực hành đọc” vì thế không phải một phương pháp đã hoàn tất, mà là khả năng lựa chọn và điều chỉnh cách đọc trước từng văn bản. Trên thực tế, không phải lúc nào tôi cũng dễ dàng “đọc thủng” văn bản và nhanh chóng bước vào được thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Có những tác phẩm, tác giả buộc tôi phải trở đi trở lại rất nhiều lần, thay đổi rất nhiều phương án đọc và diễn giải. Và không phải đọc/ viết một lần là xong: có những tác phẩm vẫn luôn hiện diện trước tôi như những câu hỏi đầy phức tạp, đòi hỏi phải nghĩ tiếp.

Tóm lại, đọc là một quá trình tìm tòi, học hỏi, đối thoại và tìm cách đối thoại với văn bản, với người viết, với những quan niệm khác mình. Đọc, trong nghĩa ấy, cũng là quá trình liên tục sửa chữa chính mình. Người đọc không chỉ khám phá văn bản mà còn khám phá những giới hạn của vốn đọc, thị hiếu và những giả định của chính mình. Có lẽ đó là lý do tôi chọn gọi những bài viết trong cuốn sách này là một “thực hành đọc”: không phải một cách đọc duy nhất, mà là một hành trình trong đó văn bản, tri thức, trực giác và người đọc liên tục tác động và điều chỉnh lẫn nhau.

                                                                               Vinh, 2/1/2019 - 2/9/2026

(Bài viết này được phát triển từ tiểu luận “Đôi điều về việc đọc thơ hiện đại”, đã công bố trong Tạp chí Thơ, 2019, số 1&2, trang 149-164. Phiên bản này đã được tác giả sửa chữa, bổ sung).

 



[1] Ở đây, tôi dùng thuật ngữ “thơ hiện đại” theo nghĩa rộng, để chỉ những hiện tượng thơ phá vỡ hoặc làm biến đổi đáng kể các quy phạm thi pháp truyền thống.

[2] Lê Đạt (2009), Đường Chữ, Nxb Hội Nhà văn, trang 506.

[3] Lê Đạt (2008), Đối thoại với đời và thơ, Nxb Trẻ, trang 116.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét