Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Quả vườn ổi - Hoàng Cầm

 

 GIẤC MƠ ĐỜI NGƯỜI

                      

                                  Lê Hồ Quang

                                             




QUẢ VƯỜN ỔI


Hoàng Cầm

Nằm trên bãi cát thư tâm

Sông nước sinh thuyền Em đẩy tới

Có gió có buồm có dòng có lái

Trách gì ai xô dạt đến bờ hoang


Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Đi...
           ngày tháng lụi tìm không thấy
Giải yếm lòng trai mải phất cờ

Cách nhau ba bước vào Vườn Ổi
Chị xoạc cành ngang
            Em gốc cây
- Xin chị một quả chín!
           - Quả chín quá tầm tay
- Xin chị một quả ương!
           - Quả ương chim khoét thủng

Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng
[1]

Hoàng Cầm cho biết ông viết Về Kinh Bắc trong khoảng từ lập thu 1959 đến giữa xuân 1960 [2], sau sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy vậy, phải đến năm 1994, nghĩa là hơn 30 năm sau, Về Kinh Bắc mới được xuất bản. Tập thơ là sự trở về với mạch nguồn văn hóa Kinh Bắc, cũng là sự trở về với tâm tình thiêng liêng của tác giả, dẫu cho, như chính ông nói trong những dòng Ước nguyện: Bốn tám dáng thơ đi tám nhịp/ Tuần du chưa vợi khối ân tình. Đó là kết quả của một cuộc tuần du nội tâm lạ thường.

Quả vườn ổi nằm trong Nhịp 5 - Còn Em, trong chùm bài tập trung về chủ đề tình yêu, đặc biệt mối tình Chị - Em nổi tiếng: Cây Tam cúc, Lá Diêu Bông, Cỏ Bồng Thi, Nước sông Thương… “Cốt truyện”, dù sơ giản (vì mục tiêu của nó là trữ tình, không phải thuật sự), vẫn đóng vai trò như xương sống của bài thơ trữ tình này (và khá nhiều bài khác trong Về Kinh Bắc).

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

Chiếc bình gốm - Nguyễn Quang Thiều

 

GIẤC MƠ BẤT TẬN TRÊN CÁNH ĐỒNG CHÂU THỔ

                            Lê Hồ Quang

 

Cây Đời (2) - Tranh Nguyễn Quang Thiều

CHIẾC BÌNH GỐM

                    Nguyễn Quang Thiều

 Rộng mê man, sông Hồng, chảy bên kia giấc mơ
Tôi ra sông, tóc réo vang như lửa, bất tận trên cánh đồng Châu Thổ.

Vục tay xuống lòng sông, tôi dâng lên, xoè rộng
Phù sa nhiễu dài - MÁU - chầm chậm và rên rỉ
Vục tay xuống lòng sông, tôi dâng lên, xoè rộng, 

ban mai ứa đầy
mí mắt tôi - bờ thứ ba màu mỡ bóng tối chuyển động.

Trộn máu vào phù sa, trộn ban mai vào hoàng hôn,

tôi nặn chiếc bình gốm

Chiếc bình chảy máu, men hoàng hôn chảy, men ban mai chảy, chảy phù sa

Tôi ra sông lấy lòng tay múc một miền nước lớn
Sông Hồng mê man rộng, chảy bên này giấc mơ [1]


         Trong Lời tựa tập Châu Thổ, khi nói về đời sống bí ẩn của thơ và cách kiến tạo đời sống ấy, Nguyễn Quang Thiều đã nói đến “trí tưởng tượng vô cùng hoang dại”, “những cơn mơ bất tận, đầy nhạc tính” và “sự va chạm của những đồ vật quen biết và gắn bó trong tuổi thơ của tôi” [2]. Đề cao trí tưởng  tượng, sức mạnh của trực giác và mơ mộng, Nguyễn Quang Thiều đã đem lại cho sự vật một đời sống và “một nhận biết khác” [3].

Chiếc bình gốm là một giấc mơ như vậy.    

Bài thơ viết về chiếc bình gốm, chính xác hơn, cách nhà thơ tạo ra chiếc bình gốm. Đó là chiếc bình độc đáo ngay từ nguyên liệu. Không phải đất sét, nước, bàn xoay và lửa, những nguyên liệu vật chất quen thuộc, nó được tạo nên bởi “miền nước lớn” - sông Hồng, bởi cánh đồng Châu Thổ với “phù sa nhiễu dài”, bởi máu, bóng tối, ban mai và hoàng hôn. Đương nhiên, không thể thiếu nguyên liệu cốt lõi - “trí tưởng tượng hoang dại” và “những giấc mơ bất tận”.

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2021

Trên quả đất mùa - Trần Dần

 

          TRẦN DẦN LÀM CHỮ TRÊN QUẢ ĐẤT MÙA

                                                                                                                                         

                                                                                                        Lê Hồ Quang

   



Ngay từ 20 tuổi, khi đặt bút viết Bản tuyên ngôn tượng trưng (1946), Trần Dần đã nói tới nỗi “chán ngắt cái thi ca nông hẹp” [1], và “thói xấu của phần đông người đọc thơ là tìm nghĩa, trước khi tìm cảm giác” [2]. Ông kêu gọi đổi mới thơ bằng ngôn ngữ tượng trưng, “tân kì”, “mang bao ý nghĩa âm u và khác lạ” [3].

Sau sự cố Nhân Văn Giai Phẩm, cách tân thơ trở thành mục đích, đồng thời, là lối thoát tinh thần với Trần Dần. Ông tuyên bố: “tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết cái đã biết… cái chưa biết - cái khó - thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuổi tôi”(Sổ bụi 1988). Thậm chí, cực đoan hơn, ông viết: “Nói tao biết mày VIẾT thế nào - tao sẽ nói mày SỐNG - CHẾT ra sao” (Sổ bụi 1986). Viết là hành động “phá hoại” nhằm tìm kiếm “cái chưa biết”. Viết là tự do, nhưng “Tự do là vi phạm chứ không tuân theo tất yếu” (Sổ bụi, vở bụi 1987). Đó là hành động “đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây” nhằm giải phóng con người khỏi ngục thất tinh thần và thể xác.

Chối bỏ thứ ngôn ngữ thơ nệ thực, vị lợi trực tiếp, Trần Dần ráo riết tìm kiếm một ngôn ngữ thơ mang tinh thần, tư tưởng mới. Những tìm tòi về Chữ của ông bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ trước, đến giờ vẫn gây ra ở phần lớn độc giả phản ứng tương tự như khi họ tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật hiện đại. (Về điều này, ta có thể mượn cách nói của Cynthia Freeland, trong cuốn sách nổi tiếng của bà, để diễn tả: Thế mà là Thơ ư?!)    

Những cuộc bay của linh giác - Giáng Vân

 

KHI NỖI PHIỀN MUỘN NỞ HOA

 

        NHỮNG CUỘC BAY CỦA LINH GIÁC

Giáng Vân

Trong cuộc chuyện trò không dứt

                                 của chúng ta và im lặng

Linh giác đi từ đầu mỗi ngón tay, mỗi sợi tóc

Thoát đi nhẹ như một hơi thở

Nhẹ như linh hồn chúng ta

Những linh hồn gầy guộc và chết mòn

                                              bởi đời sống ồn ĩ

Đang tươi trở lại như cái cây được thở

Nó bắt đầu chạm vào nỗi phiền muộn

                                       của chúng ta

Bằng những cú hích rất nhẹ

 

Trên cánh đồng phiền muộn

Chúng ta bắt đầu nở hoa [1]

Bài thơ là một tình huống giao tiếp đặc biệt - “cuộc chuyện trò không dứt” giữa “chúng ta và im lặng”. Im lặng trong trường hợp này được hình dung như một đối tượng giao tiếp ngang hàng, bình đẳng với ta/ chúng ta. Đó là sự tự giao tiếp trong nội tâm, tư tưởng. Ở đó, Im Lặng là kẻ lắng nghe, đồng thời, bằng chính sự im lặng, nó đối thoại với con người. 

Trong cuộc chuyện trò không dứt

                                 của chúng ta và im lặng

Linh giác đi từ đầu mỗi ngón tay, mỗi sợi tóc

Thoát đi nhẹ như một hơi thở

Nhẹ như linh hồn chúng ta

Những cuộc bay của linh giác thực chất là sự chuyển hóa nội tâm, khi con người biết tách khỏi cái “ồn ĩ” của đời sống bên ngoài, từ tốn đối diện với cái tôi sâu kín. Im lặng là bối cảnh, cũng là chất truyền dẫn để linh giác xuất hiện. Đó là một cảm giác siêu nghiệm:

Những linh hồn gầy guộc và chết mòn

                                              bởi đời sống ồn ĩ

Đang tươi trở lại như cái cây được thở

Nó bắt đầu chạm vào nỗi phiền muộn

                                       của chúng ta

Bằng những cú hích rất nhẹ


Trên cánh đồng phiền muộn

Chúng ta bắt đầu nở hoa

 Mô tả một cảm giác siêu nghiệm, với những biến chuyển mơ hồ và bí ẩn, bài thơ vẫn cho thấy sự áp đảo của thứ ngôn ngữ lí trí sáng tỏ, vốn rất dễ gây xâm hại sự mơ hồ, bí ẩn. Nhưng bất kể điều đó, Linh giác vẫn hiện diện như tiếng nói của một đời sống khác, đời sống của trực giác, tâm linh, song song với đời sống hàng ngày. Ở đó, trong cõi im lặng, linh giác dẫn dắt chúng ta, giúp ta thanh lọc tạp chất đời sống, gạn lắng ưu phiền, nhận ra niềm vui sống. Ở đó, ta là cái cây “đang tươi lại” trong cõi sống mà ta thuộc về, và do đó, biết cách để có thể “nở hoa” trên “cánh đồng phiền muộn” của thực tại.

Những cuộc bay của Linh giác nằm trong tập Đường gió (xuất bản năm 2013), tập thơ thứ ba của Giáng Vân, sau hai tập Năm tháng lãng quên (1990), Trên những ngày buồn (1995).  Khoảng cách thời gian hẳn cũng để lại dấu ấn trong Đường gió. Như một cảm xúc tự nhiên, không cố cưỡng cầu, không cần định danh, thơ Giáng Vân, trong Đường gió, gần với một hơi gió nội tâm nhẹ nhõm và an tịnh, mạnh mẽ và mơ hồ, “buồn và sáng”, như tên một bài thơ của chị: Chảy tuôn/ Và biến tấu không ngừng/ Không thể lường được/ Đường đi của gió/… Chảy tuôn/ Và hát/ Giọng cao của gió/… Chảy tuôn/ Cho đến khi không thể. Đó là khi con người có thể tự mình khai mở tuệ nhãn, linh giác, để có thể nhận thức thế giới theo cách khác: Một ngày/ Tôi thấy mình sáng dịu/ Như những tơ trời lắc thắc giăng giăng (Một ngày); Cơn mưa ấm và sáng/ Của một thành phố xa vời/ Ở bên ngoài những định kiến và thù hận (Viết tặng họa sỹ Trần Trọng Vũ)… và cho ta nhận ra quy luật của đời sống thật giản dị.

Linh giác là tiếng nói chỉ dẫn con người hướng tới một đời sống đơn giản, đẹp và tự nhiên, do đó - tự do. Như mùa thu, gió, những bông hoa.

Những mùa thu đẹp

chỉ để đẹp

và không vì điều gì khác

trôi trên trời cao

mây về nơi xa thẳm

rất xa

nhưng không về nơi nào

 

những bông loa kèn

nở rồi chết đúng mùa

                   (Không đề) 

Trong hiện thực “đời sống ồn ĩ” và đầy nỗi “phiền muộn” này, Những cuộc bay của linh giác là một khao khát, một hy vọng, cũng là một lựa chọn sinh tồn và sáng tạo ý nghĩa. 

                                                        Vinh, ngày 15/2/2021



[1] Giáng Vân (2013), Đường gió, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

 

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi


 

             VẺ ĐẸP CỦA NỖI ÂU LO

                                                                                                                 Lê Hồ Quang


NGƯỜI ĐÀN BÀ NGỒI ĐAN

                Ý Nhi

 Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã

Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời

Vội vã như thể đó là lần sau chót.


Không thở dài

không mỉm cười

Chị đang giữ kín đau thương

Hay là hạnh phúc

Lòng chị đang tràn đầy niềm tin

Hay là ngờ vực.


Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên

Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt

Hay sau buổi chia ly

Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu

Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng.


Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Dưới chân chị

Cuộn len như quả cầu xanh

Đang lăn những vòng chậm rãi. [1]

(1-1984)

         Đọc thơ Ý Nhi, tôi thường nghĩ đến hình ảnh Người đàn bà ngồi đan. Sao vừa gần lại vừa xa. Vừa sôi nổi nồng nàn vừa lạnh lùng khép kín. Có cái gì đơn độc mà kiêu hãnh trong dáng vẻ người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ, trong chiều lạnh, dưới chân, cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi…

Người đàn bà ngồi đan trong bài thơ cùng tên của Ý Nhi là ai? Ta không biết. Nhà thơ cũng không nói. Nhà thơ chỉ lặng lẽ “trình bày” trước chúng ta một khung cảnh (dường như) khách quan. Việc của chúng ta là men theo những mô tả - chỉ dẫn, bắt đầu thả lỏng trí tưởng tượng và liên tưởng. Hãy đọc chậm lại các chi tiết:

- Thời gian: giữa chiều lạnh;

-  Không gian: bên cửa sổ;

- Con người: một người đàn bà ngồi đan, vừa nhẫn nại vừa vội vã, không thở dài, không mỉm cười, không một lần nào ngẩng nhìn lên…;

- Đồ vật: dưới chân chị/ cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi...

Im lặng đến bất thường. Người đàn bà lặng lẽ ngồi đan, chỉ đôi tay và cuộn len chuyển động một cách nhịp nhàng, đơn điệu. Phần cơ thể còn lại dường như bất động. Không gian xung quanh con người chừng như cũng ngưng đọng trong im lặng và cả (có lẽ) bóng tối của buổi chiều. Chi tiết mô tả được giản lược, nhằm hướng độc giả tập trung vào tính chất đơn nhất, sáng rõ của hình tượng.

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021

Phố ta - Lưu Quang Vũ

 

                    BÀI THƠ VỀ NHỮNG CÂY TÁO NỞ HOA

                                                                             Lê Hồ Quang

PHỐ TA

Lưu Quang Vũ

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều.

 

Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi 
lấy chồng
Chị thợ may goá bụa
Năm nay thôi mặc đồ đen.

 

Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.

 

Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở 
khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo 
về hưu ngồi dịch sách
Dạy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-giua

 

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

 

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
Con chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu 
cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi. [1]

Nằm trong tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt), Phố ta cho thấy sự tinh tế và nồng nàn của hồn thơ Lưu Quang Vũ. Đấy là phẩm chất thơ sẽ đi cùng ông mãi về sau, trong những sáng tác ngày càng mở rộng cả về cảm hứng lẫn thi pháp.   

Phố ta đang vào thu. Ấy là mùa của sự sống đang lặng lẽ chuyển động, nảy nở. Ấy là mùa của những cây táo nở hoa/ thân cây đang tróc vỏ/ những con đường lát đá/ nghiêng nghiêng trong sương chiều… Mùi thơm ngọt của hoa táo, vị ngai ngái của vỏ cây, cái nghiêng nghiêng của con đường trong sương đánh thức những cảm giác vừa thanh sạch vừa nồng nàn, vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa tươi sáng vừa mơ hồ bí ẩn. Những cảm giác như thể gợi ra từ những bức tranh vẽ thiên nhiên của Claude Monet.