Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Thỏa thuận - Trương Đăng Dung

 


 THỎA THUẬN THƠ

                                                                                                   Lê Hồ Quang                                                                                                  

Dưới “áp lực” của tiêu đề, khi đọc Thỏa thuận, gần như ngay lập tức, trong óc tôi nảy sinh hàng loạt câu hỏi: Thỏa thuận nói về cái gì? Là sự “thỏa thuận” trong cấu trúc ngôn ngữ, giữa hai mặt kí hiệu và hình ảnh âm thanh cấu thành, vốn có mối quan hệ võ đoán? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động giao tiếp xã hội, giữa người nói và người nghe mà ngôn ngữ là phương tiện kết nối? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động tiếp nhận văn học, được xác lập trên mối quan hệ giữa độc giả và văn bản, một mối quan hệ cũng đầy tính bất định? Hay Thỏa thuận còn là gì đó khác?

Thoạt tiên, tôi thử áp dụng cách đọc lược, bao quát nhanh nội dung chính của văn bản, đồng thời kết nối một số yếu tố trong văn bản với những yếu tố bên ngoài, có mối liên hệ gần, chẳng hạn thông tin về con người tác giả; hoặc, những lí thuyết triết học, mĩ học… bàn về vấn đề liên quan. Thao tác đó cho phép tôi “lược quy” một số nét chính trong nội dung bài thơ như sau:

- Bài thơ bàn đến một tính chất đặc thù của hoạt động ngôn ngữ - tính "thỏa thuận" (hoặc diễn đạt theo cách khác - tính quy ước), trong giao tiếp đời sống và nghệ thuật. Đó là mối quan hệ vừa có tính xác định vừa đầy bất định.

- Bài thơ mô tả hoạt động ngôn ngữ thông qua một số biểu hiện cụ thể: nói, nghe, hiểu… khá sinh động. Ngôn ngữ là hình tượng trung tâm của bài thơ.

- Bài thơ giàu tính khái quát, triết lí. Nó gợi mở suy ngẫm về các mối quan hệ giao tiếp trong nghệ thuật và đời sống.  

Có một số “điểm tựa” dẫn tôi đến sự suy luận về nghĩa/nội dung văn bản nói trên. Cụ thể như sau:

a) Tên bài thơ là Thỏa thuận. Toàn bộ câu chữ, hình ảnh trong văn bản tập trung vào việc làm sáng tỏ luận đề "tính thoả thuận" trong giao tiếp ngôn ngữ.

b) Mối liên hệ giữa nội dung Thỏa thuận với một số tri thức, lí thuyết triết học, ngôn ngữ, văn hóa, nghiên cứu văn học hiện đại. Chẳng hạn, lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc của F. de Sausure với quan niệm về bản chất võ đoán của dấu hiệu ngôn ngữ[1]; lí thuyết Kí hiệu học với quan niệm về giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống và nghệ thuật “như là sự giao nhau đầy căng thẳng giữa những hành vi ngôn ngữ tương thích và không tương thích” (IU.M. Lotman)[2]; Mĩ học tiếp nhận với quan niệm khẳng định bản chất giao tiếp của nghệ thuật và tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận của độc giả [3]. Ngoài ra, về vấn đề này, còn có thể nhắc đến lí thuyết giải cấu trúc, lí thuyết diễn ngôn, lí thuyết hậu hiện đại…

c) Mối liên hệ giữa Thỏa thuận với kiểu tư duy, cảm quan thẩm mĩ của nhà thơ (đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học) Trương Đăng Dung và với những sáng tác khác của ông.

Nhưng có thực nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ chỉ nằm ở đó? 

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

Dạy học thơ Huy Cận

 

MỘT NÉT ĐẸP CẦN KHAI THÁC 

KHI DẠY HỌC THƠ HUY CẬN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

                                                             

  Lê Hồ Quang

1. Nói về thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm” [7;128]. Nhận xét ấy thực chính xác, nó chỉ rõ điểm cốt yếu của tiếng thơ Huy Cận - ấy là tiếng thơ của một con người “trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”[1]. Ta cũng có thể diễn đạt sự “trẻ lắm” ấy theo cách khác, đó là tươi mới trong xúc cảm và hiện đại trong thi pháp. Sự xác lập vị trí nhanh chóng và vững bền của Huy Cận trong phong trào Thơ mới chắc chắn xuất phát từ chính sự trẻ trung, hiện đại này.

Nhưng theo quan sát cá nhân tôi, ở trường phổ thông, khi nói đến thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là trong tập Lửa thiêng, người ta thường quan tâm chú ý và đề cao phần “già” (nỗi sầu nhân thế - vũ trụ, vẻ đẹp cổ điển, tính chất tượng trưng, phổ quát…) hơn là phần “trẻ” (sự mới mẻ, hiện đại, thanh tân)[2]. Điều này càng được nhấn mạnh khi trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, Huy Cận được dạy học cùng (và thường được đặt trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu) với Xuân Diệu, người bạn thơ thân thiết của ông, cũng là một tác gia hàng đầu thời Thơ mới. Đành rằng, việc định danh thơ Huy Cận thời Lửa thiêng bằng các định ngữ như “hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý”, “cái tôi cô đơn trước thiên nhiên”, “vẻ đẹp cổ điển”, “họa điệu giữa hồn người và tạo vật”, “lòng yêu nước thầm kín thiết tha”, “sầu nhân thế” [3] là hoàn toàn đúng (và những đặc điểm này thể hiện rất rõ qua Tràng giang, bài thơ được chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành). Nhưng thơ Huy Cận thời kỳ này không chỉ có vậy. Nhiều bài trong Lửa thiêng rất tươi mới và giàu xúc cảm cá thể, chỉ có điều chưa đến được với rộng rãi bạn đọc. Điều này khiến nhiều độc giả trẻ trong nhà trường thường có ấn tượng không đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện về thơ Huy Cận. Do đó, họ chủ yếu đọc/ nghĩ về ông như một tác giả thơ tuy giàu triết lý, có vẻ đẹp cổ điển và tao nhã nhưng khá xa cách với tuổi trẻ.

Vì những lẽ trên, tôi nghĩ cần phải nói về nét đẹp thanh xuân, tươi mới trong Lửa thiêng của Huy Cận, để bổ sung và khẳng định về những phẩm tính thẩm mĩ trong thơ tác giả này. Và cũng để nhấn mạnh một điều: Huy Cận không chỉ là một nhà Thơ mới giàu tính cổ điển, ông cũng thực sự là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu. 

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2021

Thơ Thanh Thảo

 

TIẾNG THÉT GỌI CỦA CON NGƯỜI ĐÃ VƯỢT LÊN NỖI SỢ

(Đọc trường ca Đêm trên cát, trong tập Trường ca

của Thanh Thảo, Nxb Hội Nhà văn, 2009)

 

                                Lê Hồ Quang

Đêm trên cát nằm trong vệt tác phẩm viết về nghệ sĩ - trí thức, một kiểu hình tượng nổi bật trong thơ Thanh Thảo thời hậu chiến. Viết về Cao Bá Quát, một nhà nho, một nhà thơ, vị quân sư của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, một con người có tài năng và số phận khác thường trong lịch sử dân tộc, trường ca này là cuộc giải phẫu nội tâm cá nhân bi tráng gắn liền cảm hứng nhận thức, lý giải về trách nhiệm trí thức trước các vấn đề của thời cuộc, của đời sống lịch sử - xã hội.

Bao trùm Đêm trên cát là một trạng thái nội tâm đớn đau, bi phẫn. Trạng thái ấy gắn liền ý thức sâu sắc về đời sống cá nhân, xã hội, trách nhiệm của kẻ sĩ và cũng chính nó đã thổi bùng lên ngọn lửa phản kháng mạnh mẽ, dữ dội. “Ta” (được hiểu theo nghĩa đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất), là cách xưng danh của nhân vật trữ tình. Nó vừa gợi cảm giác xưa cũ (thường gặp trong thơ xưa); đồng thời nhanh chóng xác lập tâm thế tâm sự/ tự sự/ giãi bày... của nhân vật: Ta đứng đây/ nương tựa vào chính mình vào mặt đất... Nhưng việc đào sâu vào thế giới nội tâm cũng là dấn sâu thêm vào cảm giác tổn thương nghẹn ngào chua xót:

tóc xõa đầu ngọn gió

rối bời bao tâm sự

ta già rồi chăng

trước mặt bức tường cao thêm mãi

gánh nặng lưng còng trèo non lội suối

xòe bàn tay còn lại đất bùn

mong tài năng nở rộ dưới vầng dương

buồn cười thay

nghe trong miệng vị sương mù nhạt thếch

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Tiểu thuyết Vũ Thành Sơn

 

VIẾT NHƯ MỘT CÁCH CHỮA THƯƠNG

(Về Căn nhà giữa những đám mây, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2020,

tiểu thuyết của Vũ Thành Sơn)

        
                                                 

Lê Hồ Quang

Căn nhà giữa những đám mây mở đầu bằng việc nhân vật tôi về thăm mẹ ốm nặng. Việc gặp lại người thân và khung cảnh quen thuộc đã khơi dậy trong anh ta vô số hồi ức, kỉ niệm và mối liên hệ về gia đình, bè bạn, tuổi thơ ấu... Nhưng đó chỉ là khởi điểm. Tựa hương vị chiếc bánh madeleine nổi tiếng, chuyến trở về đồng thời đánh thức nỗi ưu tư về thời gian, cái chết, nỗi bất hạnh; sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ người; sự phi lí, ngẫu nhiên và bất khả tri của thực tại mà nhân vật đang nếm trải. Với 15 chương, Căn nhà giữa những đám mây (có tên ban đầu gợi hơn là Nhà tôi ở cuối chân trời) là hành trình người kể chuyện không ngừng lục lọi những mảnh vụn kỉ niệm trong kí ức rối rắm, nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi muôn thuở: tôi là ai? Ừ, rốt cục thì tôi là ai chứ? Đâu là cái có thể giúp định danh/ xác định về tôi? Là tôi trong quá khứ hay tôi trong hiện tại, hoặc nữa, trong một chiều kích không - thời gian nào đó khác, mới đích thực là chính tôi? Hồi ức và tưởng tượng, mộng và thực, quá khứ và hiện tại, tôi và phi - tôi, tất cả đan cài, xoắn bện vào nhau tạo thành một thế giới trùng phức. Một thế giới ám ảnh bất lực, đổ vỡ, bất an. Ở đó, con người bị đẩy vào dòng xoáy thời gian, bị sinh ra, bị lớn lên và cứ thế, bị cuốn đi mãi, tới đích cuối đợi sẵn -  cái chết và hư vô.

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

Đọc - Viết - Nói - Nghe (2)

 

VIẾT

Câu hỏi thường được đặt ra là, tại sao bạn viết? Nhưng bạn nghĩ, câu hỏi đáng ra phải là thế này - tại sao bạn không viết?

Đúng thế chứ: tại sao bạn không viết?

Ý nghĩ luôn tuôn chảy trong bạn. Ào ạt chồng lấn lên nhau, chèn đẩy nhau, tức khắc bật ra, và cũng nhanh như vậy, biến mất. Óc bạn bị xóa trắng. Trong một phút trước, bạn thấy mình đầy năng lượng. Ngay sau đó, bạn thấy mình chỉ một chiếc lá khô, bị giẫm nát dưới chân người. Những mảnh vỡ khô giòn, nâu và vàng, đen xỉn. Bay chấp chới trong gió vừa chao đến. Không hồ nghi gì nữa. Bạn đã biến mất. Hoàn toàn.

Nhưng bạn không thể không nghĩ. Cũng như bạn không thể không sống. Là sự đầy ải chăng? Bạn không biết. Thực ra, bạn chưa bao giờ có thể đi đến điểm chót cùng của sống và nghĩ. Bạn trôi dạt trong nó. Lênh đênh trong nó. Lắc lư và mụ mị. Bao giờ trạng thái mụ mị này dừng lại?

Đời sống này. Những va đập này. Trạng thái thống khổ triền miên. Bạn quay mặt đi, nhìn sâu vào nội tâm, hình nhân sầu khổ đang đăm đắm nhìn bạn. Bạn trốn chạy đi đâu? Nỗi đau này nằm ngay trong chính bạn. Con người mắc chứng không thể hạnh phúc. 

Bạn muốn trốn chạy chứng thần kinh quá mẫn. Sự nhạy bén cảm giác không cần thiết. Cảm giác dễ dàng tổn thương (lạ thật, cùng tuổi tác, da sẽ dày thêm, cả da mặt lẫn lớp màng bọc dây thần kinh, phải thế chứ?). Nhưng rốt cục, càng ngày bạn càng cảm thấy thần kinh cảm giác của bạn đang quá ngưỡng. 

Như một cái bình, đầy quá sẽ tràn. Một cành cây, cong quá sẽ gẫy. Hình ảnh ẩn dụ đơn giản bạn dùng để nói với con gái nhỏ rất nhiều lần. Bạn là bình nước đã tràn, cành cây đã gẫy. Cầm bút hay gõ phím, tất cả chỉ là một. 


ĐỌC

Đã có thời bạn đọc tất cả những gì rơi vào tay, tiểu thuyết, truyện tranh, vật lí phổ thông, sách dạy nấu ăn… Ăn sống nuốt tươi. Tất cả. Sau này thì bạn biết rằng tất cả là từ dùng để chỉ một số lượng sách vở thật nghèo nàn. Tiếc là thời não bạn có thể nghiến ngấu như một cái dạ dày phàm ăn qua quá nhanh.

Nhiều khi bạn đứng thơ thẩn giữa những chồng sách bụi bám vàng ố, có cuốn còn nguyên màng bọc, không nhớ ra mình phải bắt đầu từ đâu. Phải làm gì? Não bạn nhất quyết phản đối sự đọc bằng cách trơ ì ra, nhất định không chịu nạp thêm bất kì thông tin nào mà nó tự cho là không cần thiết. Cơ chế kiểm duyệt tự động của nó rất mạnh. Bạn cảm thấy não không xem trọng bạn. Đúng hơn, có lẽ nó xem cái thằng tôi đang đi vất vưởng quanh giá sách bụi bám đầy không đáng một đồng xu mẻ. Bạn làm gì được, nếu nó không cho phép bạn đọc cho dù bạn có thể ghép vần như bất kì một kẻ đã qua tuổi lên sáu nào?

Giá sách là nơi trú nấp cuối cùng của bạn. Nơi bạn tin vẫn còn có một gia tài đợi bạn. Ở đó, bụi, mùi ẩm mốc, khổ giấy nặng trĩu tay, những con chữ to nhỏ, khung hình màu sắc, tiếng giấy khô sột soạt… gợi niềm sung sướng âm ỉ. Niềm vui của sự sở hữu. Cảm giác nhấm nháp an toàn. Sự chậm rãi làm tim bạn se lại. Kẻ đi săn thú vui trong khu rừng đơn độc của trí tưởng tượng.

Nhưng giờ đây. Tuổi tác. Sự mệt mỏi. Cảm giác vô ích. Tất cả đồng thanh phản đối bạn. Đối diện với sách là đối diện với một món nợ. Một nỗi bất an. Bạn là một con mọt, bạn có thể làm gì nếu không - đọc? Câu hỏi có thể khác đi. Khi là một con mọt, bạn còn có thể làm gì nếu không - thể - đọc?

Bạn cảm thấy bạn đang chết. Cùng với sách vở ố vàng. Không thể cưỡng lại.

 

NÓI - NGHE

Ngôn ngữ không phải để thể hiện ý nghĩ. Ngôn ngữ là để che giấu ý nghĩ. Một thứ ngôn ngữ lưỡi gỗ trơ mòn tươi vui - lễ phép - ngọt ngào - xót xa - cảm phục - chia sẻ - buồn thương thản nhiên trâng tráo. Thứ ngôn ngữ đồng phục, khuôn phép, không để bộc lộ bất cứ một điều gì, về chính bạn. Như một thứ màng nhện, mỏng và nhẹ, ngôn ngữ ấy bao quanh đời sống của bạn, bạn cười rõ tươi, trong từng vòng từng vòng thít chặt êm ái. Một ngày, mắt đờ dại, bạn nhận ra mình là con ruồi tận số trên tấm mạng nhện mỏng mảnh như sương sa.  

Những ê a đầu tiên đích thực là của bạn. Bạn nói vì bạn đói. Bạn nói vì bạn buồn ị. Bạn nói vì bạn muốn chạy và bạn muốn hát lên. Ngôn ngữ của nhu cầu cá nhân được cất lời. Một ngày, bạn thấy lời nói không còn của bạn. Ngôn ngữ bị biến dạng, một thứ ngôn ngữ mù lòa của đám đông. Thứ âm thanh đĩ thõa đang trượt đi trên vòm họng. Bạn nói và lời nói đang rời bỏ bạn. Lời chỉ còn xác lời.  

Bạn nghe và bạn không nghe. Phản ứng của bạn chẳng khác gì tiếng kêu cứu của con ruồi trên mạng nhện. Âm thanh của tai họa. Nghe được chính xác thứ ngôn ngữ ấy, có lẽ chỉ là con nhện khổng lồ đang tiến về phía bạn.

Bạn vẫn còn khả năng nói. Bạn vẫn còn khả năng nghe.

Nhưng cuối cùng bạn chỉ có thể lựa chọn im lặng.

 

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

Thơ Sấu Mã

 

 MỘT FILE THƠ TRONG MÁY TÍNH

  (Vài ý nghĩ về thơ Sấu Mã)

                                                                                                       

                                            

Bàn ăn, 1890, Paul Cézanne

                                                                                 
                                                                                                 
Lê Hồ Quang

Trong máy tính của tôi có một file thơ của Sấu Mã, một phần do tác giả tập hợp và một phần tôi tải về trên trang cá nhân của ông, phần lớn viết từ năm 2015 đến nay. Trước đó ông đã làm thơ, nhiều là đằng khác. Chúng chủ yếu được viết theo thi pháp truyền thống, thể hiện khá rõ sự nhạy bén của tác giả với các vấn đề của đời sống, ngôn ngữ giản dị, cấu tứ chắc chắn. Mặc dù cái mốc 2015 là có tính quy ước (khoảng sau 1995, tác giả ngừng lại khá lâu), nhưng sự khác biệt trong cách viết của ông trước và sau thời điểm này hoàn toàn dễ nhận thấy. Sau 20 năm bỏ bẵng, giữa lúc áp lực công việc nặng nề nhất, ông viết lại, mạnh mẽ, dồn dập. Viết rất nhanh, xong bài nào là bài nấy đã mang hình hài hoàn chỉnh tự thân, sự sửa chữa, nếu có, thường rất ít. Điều này rất khác trước kia, khi mỗi bài là một sự “tu sức” công phu từ ý tưởng, hình tượng đến cấu tứ, cũng vì vậy mà dấu ấn gò gẫm khá rõ. Còn bây giờ, viết xong là xong. Viết xong là để đấy. Mọi sự cứ như không. Hoặc giả chính vì sự tự nhiên, “vô cầu” mà mọi sự thành ra thong dong. Thong dong ngay chính trong cái hoàn cảnh đời thực bộn bề khiến người viết dẫu muốn cũng không thể nào thong dong nổi. Tinh thần thơ ở giai đoạn sau, tự nó, đã mang một diện mạo khác hẳn.

Thế nhưng, khi đang viết theo một nhiệt hứng tuôn trào, giống như “ma nhập”, ngày nào độc giả FB cũng có thể thấy thơ Sấu Mã với những hình ảnh minh họa (thường là các tác phẩm hội họa có tiếng) đặc biệt thích hợp, có tính gợi ý, dẫn dụ, như một phần không tách rời của tác phẩm, đột ngột, ông xóa hết tất cả những gì đã viết, ngay cả trong máy tính lẫn trên FB cá nhân. Có thể là một cơn giận dữ kịch phát sau rất nhiều kiên nhẫn, kiềm chế. Ai biết bên trong con người này là một khối nham thạch cuồng nộ, bỏng rẫy? Ẩn sau vẻ ngoài nghiêm cẩn, từ tốn, khiêm nhẫn, phải chăng là một tính cách quyết liệt đến cực đoan?... Hoặc có khi rất đơn giản. Với ông, thơ không phải điều gì quá quan trọng, viết hay xóa trắng cũng không mấy khác biệt. Nhưng đó cũng chỉ là muôn một hình dung không trùng khít về người thơ này. Sự suy diễn chắc chắn còn đi xa (và tệ hại hơn) khi lấy thơ để đọc người và ngược lại.