Thứ Tư, 1 tháng 9, 2021

Trên quả đất mùa - Trần Dần

 

          TRẦN DẦN LÀM CHỮ TRÊN QUẢ ĐẤT MÙA

                                                                                                                                         

                                                                                                        Lê Hồ Quang

   



Ngay từ 20 tuổi, khi đặt bút viết Bản tuyên ngôn tượng trưng (1946), Trần Dần đã nói tới nỗi “chán ngắt cái thi ca nông hẹp” [1], và “thói xấu của phần đông người đọc thơ là tìm nghĩa, trước khi tìm cảm giác” [2]. Ông kêu gọi đổi mới thơ bằng ngôn ngữ tượng trưng, “tân kì”, “mang bao ý nghĩa âm u và khác lạ” [3].

Sau sự cố Nhân Văn Giai Phẩm, cách tân thơ trở thành mục đích, đồng thời, là lối thoát tinh thần với Trần Dần. Ông tuyên bố: “tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết cái đã biết… cái chưa biết - cái khó - thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuổi tôi”(Sổ bụi 1988). Thậm chí, cực đoan hơn, ông viết: “Nói tao biết mày VIẾT thế nào - tao sẽ nói mày SỐNG - CHẾT ra sao” (Sổ bụi 1986). Viết là hành động “phá hoại” nhằm tìm kiếm “cái chưa biết”. Viết là tự do, nhưng “Tự do là vi phạm chứ không tuân theo tất yếu” (Sổ bụi, vở bụi 1987). Đó là hành động “đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây” nhằm giải phóng con người khỏi ngục thất tinh thần và thể xác.

Chối bỏ thứ ngôn ngữ thơ nệ thực, vị lợi trực tiếp, Trần Dần ráo riết tìm kiếm một ngôn ngữ thơ mang tinh thần, tư tưởng mới. Những tìm tòi về Chữ của ông bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ trước, đến giờ vẫn gây ra ở phần lớn độc giả phản ứng tương tự như khi họ tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật hiện đại. (Về điều này, ta có thể mượn cách nói của Cynthia Freeland, trong cuốn sách nổi tiếng của bà, để diễn tả: Thế mà là Thơ ư?!)    

Những cuộc bay của linh giác - Giáng Vân

 

KHI NỖI PHIỀN MUỘN NỞ HOA

 

        NHỮNG CUỘC BAY CỦA LINH GIÁC

Giáng Vân

Trong cuộc chuyện trò không dứt

                                 của chúng ta và im lặng

Linh giác đi từ đầu mỗi ngón tay, mỗi sợi tóc

Thoát đi nhẹ như một hơi thở

Nhẹ như linh hồn chúng ta

Những linh hồn gầy guộc và chết mòn

                                              bởi đời sống ồn ĩ

Đang tươi trở lại như cái cây được thở

Nó bắt đầu chạm vào nỗi phiền muộn

                                       của chúng ta

Bằng những cú hích rất nhẹ

 

Trên cánh đồng phiền muộn

Chúng ta bắt đầu nở hoa [1]

Bài thơ là một tình huống giao tiếp đặc biệt - “cuộc chuyện trò không dứt” giữa “chúng ta và im lặng”. Im lặng trong trường hợp này được hình dung như một đối tượng giao tiếp ngang hàng, bình đẳng với ta/ chúng ta. Đó là sự tự giao tiếp trong nội tâm, tư tưởng. Ở đó, Im Lặng là kẻ lắng nghe, đồng thời, bằng chính sự im lặng, nó đối thoại với con người. 

Trong cuộc chuyện trò không dứt

                                 của chúng ta và im lặng

Linh giác đi từ đầu mỗi ngón tay, mỗi sợi tóc

Thoát đi nhẹ như một hơi thở

Nhẹ như linh hồn chúng ta

Những cuộc bay của linh giác thực chất là sự chuyển hóa nội tâm, khi con người biết tách khỏi cái “ồn ĩ” của đời sống bên ngoài, từ tốn đối diện với cái tôi sâu kín. Im lặng là bối cảnh, cũng là chất truyền dẫn để linh giác xuất hiện. Đó là một cảm giác siêu nghiệm:

Những linh hồn gầy guộc và chết mòn

                                              bởi đời sống ồn ĩ

Đang tươi trở lại như cái cây được thở

Nó bắt đầu chạm vào nỗi phiền muộn

                                       của chúng ta

Bằng những cú hích rất nhẹ


Trên cánh đồng phiền muộn

Chúng ta bắt đầu nở hoa

 Mô tả một cảm giác siêu nghiệm, với những biến chuyển mơ hồ và bí ẩn, bài thơ vẫn cho thấy sự áp đảo của thứ ngôn ngữ lí trí sáng tỏ, vốn rất dễ gây xâm hại sự mơ hồ, bí ẩn. Nhưng bất kể điều đó, Linh giác vẫn hiện diện như tiếng nói của một đời sống khác, đời sống của trực giác, tâm linh, song song với đời sống hàng ngày. Ở đó, trong cõi im lặng, linh giác dẫn dắt chúng ta, giúp ta thanh lọc tạp chất đời sống, gạn lắng ưu phiền, nhận ra niềm vui sống. Ở đó, ta là cái cây “đang tươi lại” trong cõi sống mà ta thuộc về, và do đó, biết cách để có thể “nở hoa” trên “cánh đồng phiền muộn” của thực tại.

Những cuộc bay của Linh giác nằm trong tập Đường gió (xuất bản năm 2013), tập thơ thứ ba của Giáng Vân, sau hai tập Năm tháng lãng quên (1990), Trên những ngày buồn (1995).  Khoảng cách thời gian hẳn cũng để lại dấu ấn trong Đường gió. Như một cảm xúc tự nhiên, không cố cưỡng cầu, không cần định danh, thơ Giáng Vân, trong Đường gió, gần với một hơi gió nội tâm nhẹ nhõm và an tịnh, mạnh mẽ và mơ hồ, “buồn và sáng”, như tên một bài thơ của chị: Chảy tuôn/ Và biến tấu không ngừng/ Không thể lường được/ Đường đi của gió/… Chảy tuôn/ Và hát/ Giọng cao của gió/… Chảy tuôn/ Cho đến khi không thể. Đó là khi con người có thể tự mình khai mở tuệ nhãn, linh giác, để có thể nhận thức thế giới theo cách khác: Một ngày/ Tôi thấy mình sáng dịu/ Như những tơ trời lắc thắc giăng giăng (Một ngày); Cơn mưa ấm và sáng/ Của một thành phố xa vời/ Ở bên ngoài những định kiến và thù hận (Viết tặng họa sỹ Trần Trọng Vũ)… và cho ta nhận ra quy luật của đời sống thật giản dị.

Linh giác là tiếng nói chỉ dẫn con người hướng tới một đời sống đơn giản, đẹp và tự nhiên, do đó - tự do. Như mùa thu, gió, những bông hoa.

Những mùa thu đẹp

chỉ để đẹp

và không vì điều gì khác

trôi trên trời cao

mây về nơi xa thẳm

rất xa

nhưng không về nơi nào

 

những bông loa kèn

nở rồi chết đúng mùa

                   (Không đề) 

Trong hiện thực “đời sống ồn ĩ” và đầy nỗi “phiền muộn” này, Những cuộc bay của linh giác là một khao khát, một hy vọng, cũng là một lựa chọn sinh tồn và sáng tạo ý nghĩa. 

                                                        Vinh, ngày 15/2/2021



[1] Giáng Vân (2013), Đường gió, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

 

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2021

Người đàn bà ngồi đan - Ý Nhi


 

             VẺ ĐẸP CỦA NỖI ÂU LO

                                                                                                                 Lê Hồ Quang


NGƯỜI ĐÀN BÀ NGỒI ĐAN

                Ý Nhi

 Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã

Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời

Vội vã như thể đó là lần sau chót.


Không thở dài

không mỉm cười

Chị đang giữ kín đau thương

Hay là hạnh phúc

Lòng chị đang tràn đầy niềm tin

Hay là ngờ vực.


Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên

Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt

Hay sau buổi chia ly

Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu

Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng.


Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Dưới chân chị

Cuộn len như quả cầu xanh

Đang lăn những vòng chậm rãi. [1]

(1-1984)

         Đọc thơ Ý Nhi, tôi thường nghĩ đến hình ảnh Người đàn bà ngồi đan. Sao vừa gần lại vừa xa. Vừa sôi nổi nồng nàn vừa lạnh lùng khép kín. Có cái gì đơn độc mà kiêu hãnh trong dáng vẻ người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ, trong chiều lạnh, dưới chân, cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi…

Người đàn bà ngồi đan trong bài thơ cùng tên của Ý Nhi là ai? Ta không biết. Nhà thơ cũng không nói. Nhà thơ chỉ lặng lẽ “trình bày” trước chúng ta một khung cảnh (dường như) khách quan. Việc của chúng ta là men theo những mô tả - chỉ dẫn, bắt đầu thả lỏng trí tưởng tượng và liên tưởng. Hãy đọc chậm lại các chi tiết:

- Thời gian: giữa chiều lạnh;

-  Không gian: bên cửa sổ;

- Con người: một người đàn bà ngồi đan, vừa nhẫn nại vừa vội vã, không thở dài, không mỉm cười, không một lần nào ngẩng nhìn lên…;

- Đồ vật: dưới chân chị/ cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi...

Im lặng đến bất thường. Người đàn bà lặng lẽ ngồi đan, chỉ đôi tay và cuộn len chuyển động một cách nhịp nhàng, đơn điệu. Phần cơ thể còn lại dường như bất động. Không gian xung quanh con người chừng như cũng ngưng đọng trong im lặng và cả (có lẽ) bóng tối của buổi chiều. Chi tiết mô tả được giản lược, nhằm hướng độc giả tập trung vào tính chất đơn nhất, sáng rõ của hình tượng.

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021

Phố ta - Lưu Quang Vũ

 

                    BÀI THƠ VỀ NHỮNG CÂY TÁO NỞ HOA

                                                                             Lê Hồ Quang

PHỐ TA

Lưu Quang Vũ

Phố của ta
Những cây táo nở hoa
Mùa thu đấy
Thân cây đang tróc vỏ
Con đường lát đá
Nghiêng nghiêng trong sương chiều.

 

Năm nay cà chua chín sớm
Trên quầy hàng đỏ hồng
Chị thợ may đi 
lấy chồng
Chị thợ may goá bụa
Năm nay thôi mặc đồ đen.

 

Bác đưa thư, có thư ai đấy?
Bác đưa thư kéo chuông
Ti-gôn hoa nhỏ
Rụng đầy trước hiên.

 

Riêng bác thợ mộc già buồn bã
Thở 
khói thuốc lên trời
Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây
Bà giáo 
về hưu ngồi dịch sách
Dạy cậu con tiếng Pháp
Suốt ngày chào: bông-giua

 

Phố của ta
Phố nghèo của ta
Những giọt nước sa
Trên cành thánh thót
Lũ trẻ lên gác thượng
Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng.

 

Em chờ anh trước cổng
Con chim sẻ của anh
Con chim sẻ tóc xù
Con chim sẻ của phố ta
Đừng buồn nữa nhá
Bác thợ mộc nói sai rồi
Nếu 
cuộc đời này toàn chuyện xấu xa
Tại sao cây táo lại nở hoa
Sao rãnh nước trong veo đến thế?
Con chim sẻ tóc xù ơi
Bác thợ mộc nói sai rồi. [1]

Nằm trong tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt), Phố ta cho thấy sự tinh tế và nồng nàn của hồn thơ Lưu Quang Vũ. Đấy là phẩm chất thơ sẽ đi cùng ông mãi về sau, trong những sáng tác ngày càng mở rộng cả về cảm hứng lẫn thi pháp.   

Phố ta đang vào thu. Ấy là mùa của sự sống đang lặng lẽ chuyển động, nảy nở. Ấy là mùa của những cây táo nở hoa/ thân cây đang tróc vỏ/ những con đường lát đá/ nghiêng nghiêng trong sương chiều… Mùi thơm ngọt của hoa táo, vị ngai ngái của vỏ cây, cái nghiêng nghiêng của con đường trong sương đánh thức những cảm giác vừa thanh sạch vừa nồng nàn, vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa tươi sáng vừa mơ hồ bí ẩn. Những cảm giác như thể gợi ra từ những bức tranh vẽ thiên nhiên của Claude Monet.

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021

Người về - Hoàng Hưng

 

                   GƯƠNG MẶT NHÌN TỪ PHÍA KHÁC

             

NGƯỜI VỀ

 

Hoàng Hưng

Người về từ cõi ấy
Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

Người về từ cõi ấy
Bước vào cửa người quen tái mặt

Người về từ cõi ấy
Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
Hai năm còn mộng toát mồ hôi
Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

Một hôm có kẻ nhìn trân trối
Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

Giật mình
             một cái vỗ vai. [1]


Người về nằm trong tập Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng. Cái tiêu đề Người đi tìm mặt trên thực tế đã “ám” vào tâm trí nhiều độc giả và điều này có lí do của nó: Người đi tìm mặt là cảm hứng chủ đạo trong tập thơ này. Bản thân tiêu đề ấy cũng mang chứa một biểu tượng đặc biệt: Mặt - “đó là cái Tôi sâu kín đã bóc trần ra một phần” [2].

Ta biết gì về “Người về” - hình tượng trung tâm của bài thơ? Đây là một vài thông tin giản lược, trích xuất từ văn bản: “Người về từ cõi ấy”, “vợ khóc”, “con lạ”, “người quen tái mặt”. Nhiều năm sau “người về” còn “nghẹn giữa cuộc vui”, “mộng toát mồ hôi”, “nhớ một con thạch thùng”, “quen ngồi một mình trong tối”, còn “giật mình” vì “một cái vỗ vai”. Câu chuyện của “Người về” thậm chí có thể giản lược trong vài từ khóa: người về - cõi ấy - nghẹn - mộng - lạ - giật mình... 

Không thổ lộ, giãi bày, cái tôi tác giả lùi lại phía sau, đẩy hình tượng “Người về” lên trên bề mặt văn bản. “Người về” là một cách định danh phiếm chỉ, nhằm tạo ra sự gián cách cần thiết giữa cái tôi tác giả và đối tượng. Bằng thủ pháp “cái tôi giấu mặt”, tác giả cho phép hình tượng trữ tình “tự trình bày” về chính nó. Cách mô tả ở đây thể hiện rõ nguyên tắc: chỉ tập trung vào những đường nét nổi bật, có tính tượng trưng, khái quát, vứt bỏ những chi tiết cụ thể, nệ thực. Tình huống “Người về” là cái phải được làm nổi bật. Ngoài ra, tất cả đều không đáng kể. Do vậy, “Người về”, dẫu được đặc tả trong một số cảm giác, hành vi đặc biệt, vẫn hiện lên như một nhân vật bí ẩn. Ta chỉ “biết” “Người về” ở cái phần thông tin anh ta chủ động hé lộ, nghĩa là phần đời anh ta sau khi về từ “cõi ấy”. Những gì còn lại chỉ là một khoảng trống lớn, được khoét rỗng một cách cố ý.

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

Lời nghìn năm - Thạch Quỳ

 

                LỜI NGHÌN NĂM HAY LỜI CỎ?

                                                                                    Lê Hồ Quang

 

LỜI NGHÌN NĂM

      (Thạch Quỳ)

Nghìn năm mưa đã từng mưa

Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?

Nghìn năm vẫn nắng gió Lào

Quay cuồng lốc bụi trước rào nhà tôi?

Nghìn năm còn nữa hay thôi

Những người mong nhớ, những người ngóng trông...

Nghìn năm biết có còn không

Hoa trên đá, phấn trên thông ghẹo người?

Tháng năm lần lựa đắp bồi

Lặng im để cỏ, nói lời nghìn năm. [1]

 Ngay từ cái tên - Lời nghìn năm - bài thơ đã cho thấy rõ “tham vọng” khái quát hóa và ý hướng triết lí của tác giả. Nhưng Lời nghìn năm là gì? Đó là một thách thức không dễ trả lời. 

Thạch Quỳ đã buộc độc giả, gần như ngay lập tức, nhập vào mối quan tâm của ông theo cách riêng - bắt đầu từ liên tục những câu hỏi. Những câu hỏi dồn dập, cắc cớ, theo kiểu rất… Thạch Quỳ!

Đầu tiên là câu hỏi này:

Nghìn năm mưa đã từng mưa

Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?  

Một câu hỏi độc đáo. Độc đáo bởi tính chất lưỡng lự của nó.  Mưa “đã từng” chứ không phải tiếp tục mưa, vẫn còn mưa. Như vậy, con số nghìn năm nhắc tới ở đây không hẳn là chỉ thời gian của tương lai, của nghìn năm tới, mà đã bao trùm cả quá khứ đã xảy ra và của cả tương lai sắp tới, nó là mạch chảy thời gian liên tục, miên viễn. “Mưa đã từng mưa” nghìn năm trước và nghìn năm sau vẫn mưa. Ý nghĩ của tôi có thể đi theo kiểu liên tưởng tương đồng - mưa gợi ý tưởng về mưa, chẳng hạn, liệu cơn mưa của hôm nay, trong phút giây hiện tại, có gì khác với cơn mưa của nghìn năm trước? Nhưng Thạch Quỳ lại khác, ông đi theo hướng liên tưởng tương phản - mưa và sỏi đá. Tác giả viết: Nghìn năm mưa đã từng mưa/ Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào? “Chưa” chứ không phải là không. Câu thơ nêu một giả thiết, một nghi vấn. Tác giả lựa chọn và xác định góc nhìn vấn đề từ nhãn quan và trải nghiệm cá nhân, vốn luôn bị giới hạn bởi sự hữu hạn của đời người (và do đó, có thể tránh được những kết luận như đinh đóng cột, có tính tiên nghiệm, dễ làm mất đi tính hứng thú của vấn đề). Ở góc nhìn đó, cái tôi trữ tình khó có thể kết luận, anh ta chỉ có thể đưa ra một dự đoán (dù cũng có thể hiểu như một lời khẳng định), đó là sức mạnh tác động và phá hủy của thời gian. Cùng với thời gian, cả vũ trụ thay đổi, như sự biến dạng của những tảng thiên thạch vũ trụ trong vụ nổ Big Bang thành viên sỏi nhỏ hôm nay.