Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Thơ Huy Cận

TÌNH YÊU ÁO TRẮNG TRONG THƠ HUY CẬN
         (Qua tập Lửa thiêng - 1940)

                                                                                          Lê Hồ Quang

Tôi muốn dùng chính tên một bài thơ của Huy Cận - Áo trắng, để khái quát về chủ đề tình yêu trong thơ ông thời trước Cách mạng, một tình yêu đơn sơ, trắng trong, gắn liền những “xôn xao thầm lặng” của “thời trẻ dại”. Tình yêu đầu đời ấy đã được diễn tả hết sức tinh tế trong Áo trắng, Học sinh, Đi giữa đường thơm, Tựu trường, Tình tự...Đi cùng với nhãn quan mới mẻ về tình yêu lứa đôi là một nghệ thuật diễn tả giàu cảm giác và tượng trưng. Một cách viết rất riêng, rất Huy Cận.
Tương ứng với kiểu tình yêuthờiáo trắng, nhân vật trữ tình trong thơ ông thường hiện lên trong vai một chàng trai trẻ, đầy ngơ ngác và vụng dại trong những rung động ban đầu:
-   Có chàng ngơ ngác tựa gà trống
E đến trăm năm còn trẻ thơ
Tám tuổi một chiều trong rạp xiếc
Yêu nàng cưỡi ngựa uốn thân tơ
                                           (Gánh xiếc)
- Chân non dại ngập ngừng từng bước nhẹ
Chân run run trăm tình cảm rụt rè
Tuổi mười lăm gấp sách lại, đứng nghe
Lòng mới nở giữa tay đời ấm áp
                                           (Tựu trường)

Thơ Hàn Mặc Tử

THƠ HÀN MẶC TỬ,

“TIẾNG KÊU VANG TRONG IM LẶNG”


                                                                                    Lê Hồ Quang 


                   Thơ Hàn Mặc Tử gây chấn động trước hết bởi chân dung cái tôi tác giả, một cái tôi đau thương và cô độc tột cùng. Điều này không hẳn bị quy định bởi những nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa lãng mạn. Nhà thơ là kẻ lữ hành tuyệt đối cô độc không chỉ trong thế giới nội tâm mà còn trong chính đời thực (có thể tìm thấy những thông tin khá xác thực về hoàn cảnh sống cơ cực cũng như tình trạng bệnh tật của ông, nhất là những năm cuối đời, trong nhiều tài liệu). Cô độc và đau thương, do đó, với Hàn Mặc Tử, không phải một triết lí siêu hình hay một trạng thái tâm lí nhất thời, mà chính là cuộc sống hiện hữu. Nỗi đau bệnh hoạn cùng ám ảnh thường xuyên về cái chết đưa ông chìm đắm vào những trạng thái mê sảng, mộng mị kì lạ. Trong thế giới ấy, chỉ có thi sĩ với “tiếng kêu vang” của chính ông. Những âm thanh dội lại trong cõi tâm linh thăm thẳm như một cuộc rượt bắt vô vọng và đau đớn:
Ta đang khao khát tình yêu thương
Cất tiếng kêu vang trong im lặng
Tiếng va vào núi dội quanh vùng...
                  (Tiếng vang)

Thi pháp Thơ mới


MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG THI PHÁP THƠ MỚI

                                                                                                       Lê Hồ Quang
Nghiên cứu về bình diện thi pháp của tác phẩm văn học, không thể không đề cập đến những quan niệm, tư tưởng thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo. Chúng tạo nên “cái lí” ở bề sâu tác phẩm và chi phối mạnh mẽ tới những phương thức, phương tiện thể hiện. Trong bài viết này, tôi muốn tập trung trình bày về một số quan niệm, tư tưởng đáng chú ý trong thơ tình thuộc Thơ mới: những quan niệm, tư tưởng đóng vai trò như những “nguyên tắc” sáng tạo trong bộ phận thơ này. Dĩ nhiên, đấy là những nguyên tắc được khái quát lên từ thực tế văn học, chúng nằm trong sáng tác và được bộc lộ thông qua thế giới nghệ thuật, qua các phương tiện hình thức của thi ca.
1. Coi trọng những biểu hiện cảm xúc tình yêu cá nhân, cá thể
Sau những thế kỉ dài bị kiềm toả bởi tư tưởng Nho giáo, đầu thế kỉ XX, cùng những biến động, rạn vỡ trong đời sống văn hóa - xã hội, việc làm thơ và nhất là thơ tình, với các tác giả Thơ mới, mang ý nghĩa một hành động khẳng định cá nhân tích cực, mạnh mẽ. Thực chất, hành động sáng tạo này xuất phát từ một “nhu cầu khẩn thiết” của lớp thanh niên thời đại ấy: nhu cầu “được thành thực”(Hoài Thanh). Bởi vậy, người ta đặc biệt chú ý tới việc thể hiện những cảm xúc tình yêu cá nhân, cá thể trong thơ, thậm chí, còn xem nó như là một “nguyên tắc” mô tả và cần được “tuân thủ” triệt để: chúng đồng nghĩa với sự bộc lộ cao độ “cái tôi” trong hoạt động sáng tạo, trong nỗ lực biến thơ ca thực sự trở thành “tiếng kêu tự nhiên của con tim” (Phạm Quỳnh).

Mộng hóa trong Thơ Mới

 “MỘNG HOÁ”, 
MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG THƠ MỚI

                                                                                                                                         Lê Hồ Quang
Trong Thơ mới, từ mộng được sử dụng với một tần số khá cao, với nhiều ý nghĩa và đấy cũng là một tín hiệu nghệ thuật đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Khi sử dụng lại và đặt nó trong kết hợp từ mộng hoá, trước hết, tôi muốn gợi nhắc một cách diễn đạt mang dấu ấn riêng của các nhà Thơ mới, đồng thời, qua đó nhằm định danh một thủ pháp mô tả phổ biến của họ. Như vậy, mộng hoá là một tên gọi mang tính quy ước nhằm chỉ những kĩ thuật lựa chọn và tổ chức hình ảnh, ngôn ngữ theo những cách thức riêng biệt, độc đáo và bằng sự lựa chọn, tổ chức ấy, biến những sự vật, hiện tượng được mô tả trở nên gợi cảm, thi vị. Tất nhiên, gắn với thủ pháp mô tả ấy là một quan niệm, lí tưởng thẩm mĩ riêng về hiện thực, về hoạt động sáng tạo của các tác giả.
Hãy bắt đầu từ một biểu hiện tập trung nhất của thủ pháp này: cách sử dụng từ mộng. Đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã lưu ý, mộng là một tín hiệu ngôn ngữ đặc biệt trong Thơ mới. Nó được dùng với nhiều nghĩa: có khi như một tính từ chỉ tính chất của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn: thơ mộng, mơ mộng...; có khi như một động từ chỉ trạng thái tâm sinh lí của con người, chẳng hạn: nằm mộng, mộng mị...; có khi như một danh từ chỉ điều mơ ước và mong muốn biến nó thành sự thật như trong ước mộng, giấc mộng hoặc chỉ một xứ sở đẹp đẽ và nên thơ, đối lập với thực tại như trong xứ mộng, cõi mộng... Tuy nhiên, trên thực tế sáng tác, các lớp nghĩa của từ này không hoàn toàn tách rời nhau. Khi sử dụng ngôn từ, dường như các nhà Thơ mới luôn cố gắng tạo ra một độ mờ nhoè cao nhất về nghĩa, và do đó, giữa các lớp ý nghĩa, hình ảnh thơ thường có sự đan bện, giao thoa, rất khó tách bạch rạch ròi. Từ mộng thường được kết hợp với những từ ngữ cùng trường nghĩa như mơ, giấc mơ, giấc mộng, mê, chiêm bao... hoặc trường tính chất, cảm giác tương ứng như mơ màng, mơ mòng, mộng mị, thơ mộng... hoặc trường hình ảnh, sự vật mô tả mang vẻ đẹp mộng mơ, thi vị, chẳng hạn: thiếu nữ, tình yêu, thiên nhiên, giấc mơ, nỗi buồn, thơ ca, âm nhạc.... Do vậy, mộng vừa gợi hình ảnh một giấc mơ, cõi mơ vừa gợi tính chất nhập nhoà và mơ hồ, đầy ảo diệu của nó, vừa khiến nghĩ đến một hành động, trạng thái (mơ, mơ mộng), vừa gợi ra những tính chất, hiệu quả mà nó mang lại (cảm xúc, chất thơ, sự thi vị). Giữa mộng - tình - thơ là một mối quan hệ không thể tách rời: mộng vừa là cái điều kiện cần, vừa là yếu tố quyết định đồng thời là kết quả phải đạt tới của sáng tạo.

Thơ Xuân Diệu



TÍNH TRIẾT LÝ TRONG THƠ XUÂN DIỆU
(Qua các sáng tác trước Cách mạng 8/1945)

                                                                            Lê Hồ Quang
Đã thành lời cửa miệng, khi ai đó định bắt đầu câu chuyện về thơ, những triết lí như thế này: “Thơ là tiếng nói của những xúc cảm (hoặc tình cảm) mãnh liệt”; “Đến với thơ là đến với những tâm sự sâu kín của con người”; “Hãy đập vào tim anh, thiên tài là nơi đó " v.v. Và cũng đã trở thành phổ biến, quan niệm cho rằng sáng tác thơ là chuyện thuần tuý xúc cảm, sự can thiệp của những thao tác lý trí có thể sẽ phá hỏng cái không khí trữ tình đầy mê hoặc vốn là đặc tính mà cũng là bản chất của thi ca. Hẳn Xuân Diệu cũng từng nghĩ vậy khi viết:
Ai đem phân chất một mùi hương
Hay bản cầm ca! Tôi chỉ thương
Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc
Như thuyền ngư phủ lạc trong sương
                                      (Vì sao)
Trong một sáng tác khác, ông cũng nhắc lại:
Hãy để yên, tôi dệt thắm tên người;
Ai lí luận với ân tình cho đáng!
Trời reo nắng thì chim reo tiếng sáng,
Xuân có hồng thì tôi có tình tôi.
                   (Tặng thơ)       
    Thế nhưng, hơi có vẻ mâu thuẫn với những gì nhà thơ đã nói ở trên, trong sáng tác của Xuân Diệu, đặc biệt ngay trong “vùng đặc sản” thi ca của ông - thơ tình, tính triết lí được phô diễn khá đậm nét.

Thơ Vũ Hoàng Chương

THƠ TÌNH VŨ HOÀNG CHƯƠNG



                                                              Lê Hồ Quang

1. Sự gặp gỡ với văn hoá phương Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã tạo nên một cơn địa chấn dữ dội lay động tận gốc ý thức hệ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trong lòng xã hội Việt Nam cổ truyền. Con người, từ chỗ luôn xem mình là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của mô hình vũ trụ Thiên - Địa - Nhân, giờ đây, trong một tư duy phân tích tỉnh táo đậm chất phương Tây, rất tự nhiên, nhận thấy có một sự đối lập đầy lí tính giữa cá nhân và thế giới. Điều này, một mặt giúp anh ta phát hiện ra chính mình trong những giá trị riêng biệt, độc đáo: Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất (Xuân Diệu). Song tách rời khỏi cộng đồng, tự xác định mình trong tư cách là cá nhân, đồng nghĩa với việc con người phải tự chịu trách nhiệm về những hành vi và lựa chọn của mình, trong khi không bao giờ có thể chắc chắn về kết quả của sự lựa chọn đó. Do vậy, tự do cá nhân cũng đồng thời thức tỉnh nỗi âu lo về một sự hiện hữu ngắn ngủi và vô vọng, luôn đồng nghĩa với sự bất trắc và nỗi cô đơn thường trực. Tấn bi kịch tinh thần của thời đại này phản chiếu rõ trong sáng tác của Vũ Hoàng Chương, qua chân dung của một cái tôi đam mê mà khinh bạc, say đắm mà chán chường. Đó là một cái tôi ý thức sâu sắc về một thế giới thực tại bị chia cắt, và con người sống trong những giới hạn ngăn cách, vĩnh viễn đánh mất khả năng chia sẻ, hoà hợp trọn vẹn. Thực chất, thế giới nghệ thuật bị phân cực này chính là phóng chiếu của một nội tâm đầy bất ổn, là sự giằng xé của cái tôi thi sĩ giữa một bên là khát vọng truy tìm cái đẹp lí tưởng và một bên là thực tại đời sống dung tục, tầm thường, giữa khát vọng hoà hợp tuyệt đối và thực tế hiện hữu cô độc, bị chia cắt.