Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

Lời nghìn năm - Thạch Quỳ

 

                LỜI NGHÌN NĂM HAY LỜI CỎ?

                                                                                    Lê Hồ Quang

 

LỜI NGHÌN NĂM

      (Thạch Quỳ)

Nghìn năm mưa đã từng mưa

Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?

Nghìn năm vẫn nắng gió Lào

Quay cuồng lốc bụi trước rào nhà tôi?

Nghìn năm còn nữa hay thôi

Những người mong nhớ, những người ngóng trông...

Nghìn năm biết có còn không

Hoa trên đá, phấn trên thông ghẹo người?

Tháng năm lần lựa đắp bồi

Lặng im để cỏ, nói lời nghìn năm. [1]

 Ngay từ cái tên - Lời nghìn năm - bài thơ đã cho thấy rõ “tham vọng” khái quát hóa và ý hướng triết lí của tác giả. Nhưng Lời nghìn năm là gì? Đó là một thách thức không dễ trả lời. 

Thạch Quỳ đã buộc độc giả, gần như ngay lập tức, nhập vào mối quan tâm của ông theo cách riêng - bắt đầu từ liên tục những câu hỏi. Những câu hỏi dồn dập, cắc cớ, theo kiểu rất… Thạch Quỳ!

Đầu tiên là câu hỏi này:

Nghìn năm mưa đã từng mưa

Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?  

Một câu hỏi độc đáo. Độc đáo bởi tính chất lưỡng lự của nó.  Mưa “đã từng” chứ không phải tiếp tục mưa, vẫn còn mưa. Như vậy, con số nghìn năm nhắc tới ở đây không hẳn là chỉ thời gian của tương lai, của nghìn năm tới, mà đã bao trùm cả quá khứ đã xảy ra và của cả tương lai sắp tới, nó là mạch chảy thời gian liên tục, miên viễn. “Mưa đã từng mưa” nghìn năm trước và nghìn năm sau vẫn mưa. Ý nghĩ của tôi có thể đi theo kiểu liên tưởng tương đồng - mưa gợi ý tưởng về mưa, chẳng hạn, liệu cơn mưa của hôm nay, trong phút giây hiện tại, có gì khác với cơn mưa của nghìn năm trước? Nhưng Thạch Quỳ lại khác, ông đi theo hướng liên tưởng tương phản - mưa và sỏi đá. Tác giả viết: Nghìn năm mưa đã từng mưa/ Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào? “Chưa” chứ không phải là không. Câu thơ nêu một giả thiết, một nghi vấn. Tác giả lựa chọn và xác định góc nhìn vấn đề từ nhãn quan và trải nghiệm cá nhân, vốn luôn bị giới hạn bởi sự hữu hạn của đời người (và do đó, có thể tránh được những kết luận như đinh đóng cột, có tính tiên nghiệm, dễ làm mất đi tính hứng thú của vấn đề). Ở góc nhìn đó, cái tôi trữ tình khó có thể kết luận, anh ta chỉ có thể đưa ra một dự đoán (dù cũng có thể hiểu như một lời khẳng định), đó là sức mạnh tác động và phá hủy của thời gian. Cùng với thời gian, cả vũ trụ thay đổi, như sự biến dạng của những tảng thiên thạch vũ trụ trong vụ nổ Big Bang thành viên sỏi nhỏ hôm nay.

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2021

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu - Tô Thùy Yên

 

                                         CUỘC RƯỢT ĐUỔI VỚI VÔ TẬN

                                                                                                                                                                                Lê Hồ Quang

 



Cánh đồng con ngựa chuyến tàu của Tô Thùy Yên được viết theo thể thất ngôn, gồm 15 dòng, không phân khổ, ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, dễ hiểu, mô tả cuộc đua giữa một con ngựa và một chuyến tàu giữa cánh đồng - đó là những gì chúng ta có thể tóm lược ngay về bài thơ nổi tiếng này. Tuy nhiên, có thực nghĩa/ ý nghĩa của Cánh đồng con ngựa chuyến tàu chỉ dừng lại trong một vẻ đẹp đơn giản, mang tính truyền thống, dễ định danh, định tính? Tôi nghĩ không hẳn. Vẻ đơn giản của bài thơ này thực ra ấn chứa nhiều hơn thế. Nó là sự đơn giản đã được lựa chọn. Một sự đơn giản đầy kĩ thuật.  

Hãy bắt đầu từ bộ ba hình ảnh con ngựa - chuyến tàu - cánh đồng. Một cánh đồng rộng lớn, hoang vu, một con tàu đang băng băng chạy, một con ngựa đang rượt đuổi theo. Hãy chú ý đến tương quan chuyển động ngược chiều giữa con tàu và các sự vật trên cánh đồng. Sự thực thì tất cả các sự vật trên cánh đồng - cỏ cây, gò đống… - đều đứng yên, nhưng khi điểm nhìn đặt trên vật chuyển động, ví dụ trong con tàu đang lao vun vút nhìn ra, sự vật bên ngoài có vẻ như đang chạy lùi lại, đó là ảo giác về chuyển động ngược. Chi tiết “gò nổng cao” và “thung lũng sâu” cho thấy sự biến đổi trong tích tắc của ngoại cảnh và sự tinh vi của cảm giác con người.

Có thể hình dung tác giả đang kết hợp nhiều góc quay và điểm nhìn cùng lúc. Có điểm nhìn toàn cảnh, từ trên cao xuống, bao quát toàn bộ quang cảnh. Có điểm nhìn cận cảnh, quay sát đối tượng, và dáng nét, hình thể sự vật bỗng choán hết cả khung hình, sống động đến từng chi tiết. Có điểm nhìn từ trong con tàu đang chuyển động nhìn ra. Có điểm nhìn quan sát từ bên ngoài khung cảnh chiếu vào sự vật v.v. Đó là một kĩ thuật mô tả giàu tính điện ảnh.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Làm thế nào để đọc một bài thơ... - Lê Vĩnh Tài

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỌC MỘT BÀI THƠ

CỦA /THEO KIỂU LÊ VĨNH TÀI…

                                                               

                                                                Lê Hồ Quang

 Cách đọc một bài thơ - đó có phải là điều đang làm bạn bối rối? Nếu vậy, bạn sẽ không đơn độc khi đọc bài (thơ) này. Bởi Làm thế nào để đọc một bài thơ… đích thực là bài hướng dẫn sự/ cách đọc thơ. Một sự chỉ dẫn cặn kẽ, lớp lang và đầy thấu hiểu, cảm thông với nỗi bối rối/ rối bời của bạn!

PHẦN 1. CHỈ DẪN LÍ THUYẾT VỀ CÁCH ĐỌC THƠ

Tác giả đã chia nội dung bài (thơ) này thành hai phần. Ta tạm gọi phần 1 là phần hướng dẫn lí thuyết, với tiêu đề dưới dạng một câu hỏi tu từ giàu sức gợi dẫn (hoặc cũng có thể hiểu như một lời cảm thán, do kết thúc không phải dấu hỏi mà là dấu ba chấm) - Làm thế nào để đọc một bài thơ… Phần 2 là phần dành để thực hành - Một ví dụ để bạn thực hành. Thật trực quan, sinh động!

Sau đây là một số chỉ dẫn quan trọng về cách đọc thơ do tác giả đề xuất.

Chỉ dẫn thứ nhất - soạn lại tâm thế đọc

đầu tiên, hãy quên đi mọi thứ bạn đã học

rằng thơ là khó hiểu

rằng nó không dành cho những người như bạn

Cái biết của lý trí đôi khi làm hại bạn, nó làm bạn trở nên cứng nhắc, giáo điều. Bạn chỉ tin vào những mô hình đã được công nhận, những con đường đã được vạch sẵn. Bạn đánh mất khả năng hồn nhiên. Khi đứng trước một bông hoa, tư duy nệ phân tích khiến bạn chỉ nhìn thấy hỗn hợp thân - cánh - nhụy - hương, bạn không biết bông hoa đích thực như - nó - là, đã mất (Vườn thức một mùi hoa đi vắng - Lê Đạt). Đấy là một cảnh báo nghiêm túc khi bạn chỉ chực cầm cây kéo giáo điều để cắt/ đọc một bài thơ: hãy quên đi mọi thứ bạn đã học… Không phải quên đi kiến thức mà quên đi định kiến. Những định kiến phổ biến, chẳng hạn “thơ khó hiểu” (thực ra, thơ nào chẳng khó hiểu với người đọc mang sẵn tâm thế không dành cho thơ?), định kiến phân loại/ phân biệt thơ (cao nhã/ dung tục; trí thức/ bình dân; lãng mạn/ hiện đại/ hậu hiện đại…), chẳng hạn định kiến giới hạn đọc (loại thơ này không dành cho tôi, hoặc, nói cách khác, cao ngạo hơn, tôi không đọc dạng - gọi - là - thơ này)…

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Đọc thơ Nguyễn Bình Phương

 

ĐỌC THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

                                                                                          Lê Hồ Quang

Đọc thơ Nguyễn Bình Phương không dễ. Có thể nói, thơ ông có một thứ “ngôn ngữ” khác thường: thứ ngôn ngữ của mộng mị, của những ảo giác chập chờn, phi thực, hư ảo... Ngôn ngữ ấy đòi hỏi ta phải bớt đi cái tỉnh táo ráo riết của lí trí, gia tăng sự phiêu lưu của trí tưởng tượng, sự buông bắt xa lạ và ngẫu hứng của trực giác. Nó buộc ta phải “buông thả” thật hoàn toàn trong tầng tầng liên tưởng và sự mơ hồ bất định. Bởi vậy, việc “đọc” thơ Nguyễn Bình Phương là một hành trình tìm đường vào cõi lạ đầy nhọc nhằn, với nhiều cảm giác bất an, nghi hoặc. 

Hãy bắt đầu từ những ấn tượng và cảm nhận chung nhất về thơ Nguyễn Bình Phương. Đó là một thi giới đầy những sự vật, hình ảnh lạ lùng, thậm chí kì dị. Nó xuất phát từ nhu cầu cảm nhận và lí giải khác về hiện thực:

Qua con mắt khép hờ

Mặt trăng đi thẳng vào giấc ngủ

Cuối đường gặp một ban mai bàng bạc

 

... Người đeo kính hết mọi nhớ mong

Những quên lãng lại hồi về trí nhớ

Con mắt khép nửa vời là cạm bẫy thờ ơ

 

Trong giấc ngủ đầy mộng mị

Trăng không thể bay ra...

                                           (Mắt)

Trong khoảnh khắc, "con mắt khép hờ” (hay “con mắt khép nửa vời”) ấy đã  phá hủy và kiến tạo, kết hợp và xếp đặt lại tất cả hình ảnh hiện thực, biến chúng thành một “thực tại mộng mị”, bị/ được chế ngự bởi một sức mạnh nội tâm mãnh liệt và dị thường. Giữa chủ - thể - của - cái - nhìn và thế giới - được - nhìn - thấy ấy không tồn tại tách biệt, đối lập mà tồn tại trong sự giao hòa và chuyển hóa. Ở đây, nội tâm và ngoại giới được kết nối trong một trạng thái đặc biệt, rất khó để nhận ra những dấu vết của đời thực, nói đúng hơn, những dấu vết cụ thể của đời thực trở nên mờ nhòe, mung lung, chỉ còn lại những đường nét tượng trưng mơ hồ.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Thỏa thuận - Trương Đăng Dung

 


 THỎA THUẬN THƠ

                                                                                                   Lê Hồ Quang                                                                                                  

Dưới “áp lực” của tiêu đề, khi đọc Thỏa thuận, gần như ngay lập tức, trong óc tôi nảy sinh hàng loạt câu hỏi: Thỏa thuận nói về cái gì? Là sự “thỏa thuận” trong cấu trúc ngôn ngữ, giữa hai mặt kí hiệu và hình ảnh âm thanh cấu thành, vốn có mối quan hệ võ đoán? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động giao tiếp xã hội, giữa người nói và người nghe mà ngôn ngữ là phương tiện kết nối? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động tiếp nhận văn học, được xác lập trên mối quan hệ giữa độc giả và văn bản, một mối quan hệ cũng đầy tính bất định? Hay Thỏa thuận còn là gì đó khác?

Thoạt tiên, tôi thử áp dụng cách đọc lược, bao quát nhanh nội dung chính của văn bản, đồng thời kết nối một số yếu tố trong văn bản với những yếu tố bên ngoài, có mối liên hệ gần, chẳng hạn thông tin về con người tác giả; hoặc, những lí thuyết triết học, mĩ học… bàn về vấn đề liên quan. Thao tác đó cho phép tôi “lược quy” một số nét chính trong nội dung bài thơ như sau:

- Bài thơ bàn đến một tính chất đặc thù của hoạt động ngôn ngữ - tính "thỏa thuận" (hoặc diễn đạt theo cách khác - tính quy ước), trong giao tiếp đời sống và nghệ thuật. Đó là mối quan hệ vừa có tính xác định vừa đầy bất định.

- Bài thơ mô tả hoạt động ngôn ngữ thông qua một số biểu hiện cụ thể: nói, nghe, hiểu… khá sinh động. Ngôn ngữ là hình tượng trung tâm của bài thơ.

- Bài thơ giàu tính khái quát, triết lí. Nó gợi mở suy ngẫm về các mối quan hệ giao tiếp trong nghệ thuật và đời sống.  

Có một số “điểm tựa” dẫn tôi đến sự suy luận về nghĩa/nội dung văn bản nói trên. Cụ thể như sau:

a) Tên bài thơ là Thỏa thuận. Toàn bộ câu chữ, hình ảnh trong văn bản tập trung vào việc làm sáng tỏ luận đề "tính thoả thuận" trong giao tiếp ngôn ngữ.

b) Mối liên hệ giữa nội dung Thỏa thuận với một số tri thức, lí thuyết triết học, ngôn ngữ, văn hóa, nghiên cứu văn học hiện đại. Chẳng hạn, lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc của F. de Sausure với quan niệm về bản chất võ đoán của dấu hiệu ngôn ngữ[1]; lí thuyết Kí hiệu học với quan niệm về giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống và nghệ thuật “như là sự giao nhau đầy căng thẳng giữa những hành vi ngôn ngữ tương thích và không tương thích” (IU.M. Lotman)[2]Mĩ học tiếp nhận với quan niệm khẳng định bản chất giao tiếp của nghệ thuật và tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận của độc giả [3]Ngoài ra, về vấn đề này, còn có thể nhắc đến lí thuyết giải cấu trúc, lí thuyết diễn ngôn, lí thuyết hậu hiện đại

c) Mối liên hệ giữa Thỏa thuận với kiểu tư duy, cảm quan thẩm mĩ của nhà thơ (đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học) Trương Đăng Dung và với những sáng tác khác của ông.

Nhưng có thực nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ chỉ nằm ở đó? 

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

Dạy học thơ Huy Cận

 

MỘT NÉT ĐẸP CẦN KHAI THÁC 

KHI DẠY HỌC THƠ HUY CẬN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

                                                             

  Lê Hồ Quang

1. Nói về thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm” [7;128]. Nhận xét ấy thực chính xác, nó chỉ rõ điểm cốt yếu của tiếng thơ Huy Cận - ấy là tiếng thơ của một con người “trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”[1]. Ta cũng có thể diễn đạt sự “trẻ lắm” ấy theo cách khác, đó là tươi mới trong xúc cảm và hiện đại trong thi pháp. Sự xác lập vị trí nhanh chóng và vững bền của Huy Cận trong phong trào Thơ mới chắc chắn xuất phát từ chính sự trẻ trung, hiện đại này.

Nhưng theo quan sát cá nhân tôi, ở trường phổ thông, khi nói đến thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là trong tập Lửa thiêng, người ta thường quan tâm chú ý và đề cao phần “già” (nỗi sầu nhân thế - vũ trụ, vẻ đẹp cổ điển, tính chất tượng trưng, phổ quát…) hơn là phần “trẻ” (sự mới mẻ, hiện đại, thanh tân)[2]. Điều này càng được nhấn mạnh khi trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, Huy Cận được dạy học cùng (và thường được đặt trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu) với Xuân Diệu, người bạn thơ thân thiết của ông, cũng là một tác gia hàng đầu thời Thơ mới. Đành rằng, việc định danh thơ Huy Cận thời Lửa thiêng bằng các định ngữ như “hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý”, “cái tôi cô đơn trước thiên nhiên”, “vẻ đẹp cổ điển”, “họa điệu giữa hồn người và tạo vật”, “lòng yêu nước thầm kín thiết tha”, “sầu nhân thế” [3] là hoàn toàn đúng (và những đặc điểm này thể hiện rất rõ qua Tràng giang, bài thơ được chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành). Nhưng thơ Huy Cận thời kỳ này không chỉ có vậy. Nhiều bài trong Lửa thiêng rất tươi mới và giàu xúc cảm cá thể, chỉ có điều chưa đến được với rộng rãi bạn đọc. Điều này khiến nhiều độc giả trẻ trong nhà trường thường có ấn tượng không đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện về thơ Huy Cận. Do đó, họ chủ yếu đọc/ nghĩ về ông như một tác giả thơ tuy giàu triết lý, có vẻ đẹp cổ điển và tao nhã nhưng khá xa cách với tuổi trẻ.

Vì những lẽ trên, tôi nghĩ cần phải nói về nét đẹp thanh xuân, tươi mới trong Lửa thiêng của Huy Cận, để bổ sung và khẳng định về những phẩm tính thẩm mĩ trong thơ tác giả này. Và cũng để nhấn mạnh một điều: Huy Cận không chỉ là một nhà Thơ mới giàu tính cổ điển, ông cũng thực sự là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu.