Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Văn học mạng Việt Nam, xu hướng sáng tạo và tiếp nhận

 VĂN HỌC MẠNG VIỆT NAM,

XU HƯỚNG SÁNG TẠO VÀ TIẾP NHẬN

(Trần Khánh Thành, Lê Trà My, Trần Ngọc Hiếu,
NXb Đại học Quốc gia Hà Nội, tái bản lần thứ nhất, 2021)

 

Cuốn sách là cái nhìn mang tính bao quát về văn học mạng (Internet literature) Việt Nam, bắt đầu từ việc giới thuyết khái niệm, phân tích bối cảnh, tính chất, xu hướng sáng tạo và tiếp nhận, đi sâu vào một số hiện tượng thể loại: thơ mạng, truyện mạng, tản văn mạng, phê bình mạng và chốt hạ bằng 02 phụ lục, một là phác thảo về văn học mạng Trung Quốc và hai, là bảng tra cứu thuật ngữ.

Sau đây là một số nhận xét nhanh.

- Thứ nhất, sách có cấu trúc nội dung chặt chẽ. Một hiện tượng vô cùng phức tạp như văn học mạng Việt Nam đã được tổng hợp, phân loại và khái quát, hệ thống hóa một cách hợp lí. Nhiều nội dung viết kĩ, gọn mà sáng, văn nghiên cứu mà đọc rất thú. Chẳng hạn phần phân tích sự ra đời của văn học mạng, tính chất của văn học mạng, thơ mạng Việt ngữ... Tuy nhiên, có một số phần vẫn hơi sa vào mô tả, nhất là phần nói về các tác phẩm văn xuôi. Phần phê bình mạng hơi nhạt (có thể do sự nhạt của... phê bình!). Có sự không đồng đều giữa các phần viết (trong văn phong, lối viết, cách lập luận, cách dùng đại từ...)

- Thứ hai, có nhiều thông tin mới, đáng chú ý về các hiện tượng văn học mạng. Có nhiều tác giả thuộc dòng "văn học thiểu số" (nói theo cách của F. Kafka), ngoại biên, nghĩa là hiếm khi thấy được nhắc tên trong các công trình nghiên cứu trường quy. Một số vấn đề như cái tục, cái hài, cái nhảm, hoặc vấn đề tính dục trong văn học mạng v.v., nằm trong mạch lí giải, gợi mở, kích thích suy nghĩ. Chọn một số trường hợp tác giả, tác phẩm tiêu biểu ở một số thể loại, các tác giả phân tích, dẫn giải khá rạch ròi, cụ thể, thuyết phục. Nhìn chung, các hiện tượng được lựa chọn phân tích khá đích đáng.

- Thứ ba, tập trung vào đối tượng là văn học mạng Việt ngữ cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, các tác giả chú ý trình bày và lí giải về nó như một hiện tượng văn hóa, văn học phức tạp và đang chuyển động. Cách tiếp cận văn học mạng từ xu hướng sáng tạo (của tác giả văn học mạng) và tiếp nhận (độc giả mạng) cho ta hiểu về sự "có lí" của những hiện tượng văn học mới mà từ góc nhìn nghiên cứu truyền thống, có tính ổn định, tĩnh tại, hoặc hàn lâm, cứng nhắc, sẽ khó hiểu, và đương nhiên, khó chấp nhận cái gọi là giá trị của chúng. Sự thực thì mình không đánh giá cao về mặt đóng góp nghệ thuật của một số hiện tượng (chẳng hạn thơ Nguyễn Phong Việt hoặc một số tác giả văn xuôi ngôn tình như Gào...), nhưng việc cuốn sách đặt các hiện tượng này từ góc nhìn xã hội học văn học, từ hiệu ứng truyền thông, từ tiếp nhận của một lớp độc giả thị dân trẻ, chúng trở thành một vấn đề khoa học cần phải được suy nghĩ và lí giải.

Tóm lại thì, sách đem lại cái nhìn và nhận thức cần thiết về một hình thái văn học mới - văn học mạng, đã xuất hiện như một tất yếu trong lịch sử văn học, tương ứng với sự phát triển của CNTT, kéo theo nó là sự đứt gãy - cũng có tính tất yếu lịch sử - của hình thái văn học giấy (in ấn) truyền thống. Đối diện với hiện tượng văn học mới này, ta không thể vờ nhắm mắt bịt tai, tiếp tục cách đọc một chiều, bảo thủ và cứng nhắc.

Dù đọc nhanh, theo kiểu tranh thủ, cuốn sách đã gieo một chất kích thích, một sự hồ nghi, một nỗi hứng khởi. Nó gợi ý kết nối mới, với những hiện tượng, tác giả, tác phẩm mà mình đã thấy, đang thấy, vẫn thấy trên các trang web, blog, facebook... và cả trên những trang sách in, với hình hài và hơi thở khác. Nó lan tỏa một khao khát đọc và lí giải họ, đánh giá họ theo hướng khác, với bản dạng khác, trong bối cảnh tồn tại khác của văn học thời đại số.

              

Vinh, 14/2/2022

 


                                                                  

 


 

Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2022

Nguyễn Duy, nhà thơ hiện đại Việt Nam - Lã Nguyên

 NGUYỄN DUY, NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

(Lã Nguyên)


Tư duy của tác giả, đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận, đó là ba điểm đáng chú ý.

 


 

Chi phối cấu trúc và nội dung cuốn sách là kiểu tư duy lí luận, chú trọng tính hệ thống - cấu trúc chặt chẽ. Điều này thể hiện trong mô hình và hệ thống thuật ngữ thi pháp học khá quen thuộc và ngay trong ý đồ diễn giải khái niệm "Nguyễn Duy - Nhà thơ hiện đại Việt Nam", theo kiểu Lã Nguyên. Tác giả Nguyễn Duy, gương mặt thơ quen thuộc thời chống Mỹ, được nghiên cứu từ góc độ loại hình, trong sự so sánh với một kiểu loại hình tác giả khác, áp đảo, nổi bật của thơ Cách mạng - tác giả Tố Hữu. Sự thực là "cuống nhau và chùm rễ" của thơ Nguyễn Duy với gốc thơ Cách mạng khá đậm, và dù rẽ nhánh sang thể tài, cảm hứng thế sự, đời tư, ông không hoàn toàn đối lập - trong tư cách một kiểu tác giả - với kiểu nhà thơ - chiến sĩ mà Tố Hữu là đại diện nổi bật, điều này không phải không gây gợn nghĩ. Nhưng vấn đề loại hình tác giả được đặt ra ở đây thực sự có ý nghĩa và cần được tiếp tục, đặc biệt trong nghiên cứu văn học sử hiện đại. Tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu (văn hóa - lịch sử, phân tích hình thức, diễn ngôn, hệ thống... ), đặc biệt ấn tượng là phương pháp so sánh - loại hình. Các lí thuyết nghiên cứu ở đây thực sự là những công cụ nhà nghề, chúng được nhà phê bình sử dụng một cách linh hoạt, nhẹ nhõm.

 


 

Đây là một cuốn sách nghiên cứu - phê bình được đẩy tới trên đà rất nhiều công trình lí luận, nghiên cứu nền tảng trước đó của tác giả (xem ảnh chụp). Thế nên, với tư cách một quả ngọt hái thêm trên quá trình nghiên cứu, cuốn sách có vẻ đẹp ung dung của độ chín không cưỡng cầu. Nó đến từ tinh thần đối thoại, thái độ gợi mở tri thức, ngôn ngữ phân tích giản dị, tự nhiên và sôi nổi.

                                                                                                 Vinh, 5/1/2022 

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2021

Tôi thích mình là một cái cây - Thanh Thảo

 

KHI NHÀ THƠ THÍCH MÌNH LÀ MỘT CÁI CÂY

 


Cây và bụi cây, 1887, Van Gogh 

TÔI THÍCH MÌNH LÀ MỘT CÁI CÂY

Thanh Thảo

“rồi trong mơ ta hóa thành cây

cây nho nhỏ lá xanh cành gầy

đi lang thang trong thành phố hừng đông

khe khẽ rung như một chiếc chuông con”

một cái cây sống

nhỏ to không quan trọng

một cái cây

không bị ai bán đứng

dù cổ thụ hay tơ non

một cái cây trầm ngâm

nói chuyện gì không ai nghe rõ

bạn bè quanh năm gió

cười một mình xanh chút nắng chút mây

 

tôi ước mình là một cái cây

thi thoảng có chim tới hót

con chim sâu bé bỏng nhảy nhót

chẳng cần biết thế giới ra sao

 

một cái cây xanh đến từng chiếc lá

buổi sớm tỏa dưỡng khí

ban đêm hứng ánh trăng

một cái cây lang thang

dù đứng im một chỗ

 

những ngày rồi qua những người rồi xa

cái cây rung khẽ từng chiếc lá

chúng ta là ai chúng ta về đâu

chờ mãi cơn mưa rào rất lạ

 

nắng gay gắt cứ như cáu gắt

cây lá nhỏ nép mình chật vật

chúng ta là ai xanh được bao lâu

lặng im lá vàng rơi chạm đất [1]

7/2017

Chờ mãi cơn mưa rào rất lạ là tuyển thơ mới nhất của Thanh Thảo, gồm các sáng tác ngắn, chủ yếu viết trong khoảng thời gian từ sau 1986 đến nay. Mở đầu tập thơ là lời đề từ ngắn gọn, đề cập đến sắc xanh cây lá và mong ước cơn mưa:

xanh rất xanh một ngày tất cả cây

                                     bừng trên mặt đất

những tìm tòi không mỏi mệt suốt đời anh

là vươn tới màu xanh này rất thật

báo trước cơn mưa từ một thoáng rung cành

Lời đề từ kết nối một cách tự nhiên, ý nhị với hình ảnh chồi non, rễ cây, góc vườn lục bình/ xanh buồn bã, quả ổi rụng thơm khoảnh khắc nào, bóng tiếng chuông loáng thoáng… rải rác trong tập thơ, như lời nhắc có mặt của thiên nhiên trong trẻo, mát lành, đang dần mai một đi trước đời sống thực dụng xô bồ.

Trong tâm thức Thanh Thảo, giữa ông và cây lá thiên nhiên có sự đồng cảm, gắn kết thầm lặng nhưng mãnh liệt, nói theo cách của ông, “như thể anh cùng họ với cây”:

một ngày nào đó

cây xanh chìa cho anh chiếc lá

viết mấy chữ lờ mờ

như thể anh cùng họ với cây

buồn lặng trong đêm bụi bặm trong ngày

chiếc lá có gì muốn nói

một ngày nào đó 

(Thông điệp)

Ở cây lá, ông nhận ra một sức mạnh lặng thầm, bình thản, một thái độ và cách sống đáng ngưỡng mộ:

không cưỡng lại mùa đông

không vồ vập mùa xuân

bình tĩnh qua mùa hạ

cô độc suốt mùa thu

 

những chiếc lá

âm thầm

hy vọng

không hy vọng

(Những chiếc lá)

 Nhìn từ đây, ta thấy bài thơ Tôi thích mình là một cái cây là sự kết nối rất tự nhiên trong mạch thơ viết về thiên nhiên của Thanh Thảo.    

 Mong muốn của nhân vật trữ tình được bày tỏ ngay trong cái tên bài thơ, một cách trực tiếp, hồn nhiên, không màu mè: Tôi thích mình là một cái cây. Một lời bộc bạch. Như trong một cuộc tán gẫu của những người bạn, không có gì to tát, nghiêm trọng. Hoặc có khi, là một lời nói thầm với chính mình. Dần dà tự trong tâm, ý muốn hiện hình thành lời, từ lời nói thầm, nó được nói to lên, thành thơ.

Vậy “tôi thích mình là một cái cây” như thế nào?

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

Yêu nhau ba thì - Inrasara

 

THƠ VÀ TÌNH YÊU
TRONG THỜI ĐẠI ĐÁNH MẤT SỰ NGÂY THƠ

         

YÊU NHAU BA THÌ

                            Inrasara

1. Thì Lãng mạn hậu thời

Ở một thành phố phương Nam khi xe cộ đã đi ngủ
sự vắng mặt em khởi động nhớ trong anh
nhớ vào mùa gieo hạt

Nhớ
sáng tạo điệu bước em & ánh mắt em
môi hé em & vùng ngực nõn em. Sáng tạo
bàn tay móng ngắn em & vòng ôm nhiệt tình em

Nhớ mọc ngang tầm im lặng
nhớ huỷ thiêu trùng trùng khoảng rỗng

Ở thành phố khi ý thức đã đi ngủ
anh bay bằng triệu cánh tình yêu về làng quê phương Bắc
nơi
em đang xoã vùng tóc lạnh run rẩy thân mai trong rét
chờ anh phủ hơi ấm phương Nam

Ở một thành phố
da em thơm như niềm vắng mặt


2. Thì H[ậu h]iện đại

& chúng ta yêu nhau bằng thứ tình yêu đã lỗi thời
tình yêu từng xảy ra trong tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn chẳng hạn. Cũng có thể gần hơn

Lối hôn này cóp của Bardot, Fonda - ai biết
thứ vuốt ve tối qua từa tựa The Pretty Woman
& chúng ta
yêu nhau như lặp lại

Như là bản sao
chán quá đi mất, em nói
hay mình lao bừa vào nhau đi anh

Nhớ anh da diết - bọn làm thơ chập cheng đã viết nát
yêu em mê mệt - Barbara Cartland đã nói rồi
điệu nghệ hơn cả anh, có lẽ

Hay ta chia tay đi em
lại là thứ chia li không miếng nào đặc sắc
na ná trong phim, xa hơn: truyện cổ tích

& thì
đành yêu tạm thôi, mình nhỉ!


3. Thì Cổ điển mới

Đất màu ngô
em & anh xe hơn một giờ
chúng ta ngược về lãng mạn lạc thời, em nói

Đất Cao Lan hẹp mà lòng em rộng
đồi Cao Lan cằn làm hồn anh phì nhiêu
quành xe vào hiện thực
Trời đang rét mà mắt em ấm
tay anh buốt cho da em thơm
người không dài lời về nghèo khổ

Đất màu ngô
tình yêu màu gì không biết
môtô lạnh cóng hơn một giờ
anh cứ giàu lên từng cây số. [1]


             Giễu nhại là thủ pháp được sử dụng phổ biến trong các sáng tác hậu hiện đại. Nó được xem là một đặc trưng của lối viết hậu hiện đại. Theo Nguyễn Hưng Quốc, “dù nhìn từ góc cạnh nào thì giễu nhại cũng có hai đặc điểm chính: nhại và giễu, tức bắt chước và châm biếm. Nhại có nhiều phạm vi khác nhau: văn bản hay khung hình thức của thể loại; trong văn bản, có nhiều cấp độ khác nhau: từ, câu, đoạn, hay toàn văn. Châm biếm cũng có nhiều đối tượng khác nhau[2]. Đây cũng là thủ pháp được sử dụng khá thường xuyên trong sáng tác của Inrasasa ở giai đoạn sau, đặc biệt từ Lễ tẩy trần tháng tư, Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ Tân hình thức…

Yêu nhau ba thì (nằm trong tập Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài thơ Tân hình thức) là “bài thơ” (nói chính xác là một cụm bài) được viết bằng thủ pháp giễu nhại. “Bài thơ” này “nhại” lại các phong cách thơ khác nhau, từ lãng mạn hậu thời, hậu hiện đại, cổ điển mới

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2021

Ẩn ngữ - Hoàng Vũ Thuật

 

 ẨN NGỮ

Hoàng Vũ Thuật

                      Tặng họa sĩ Nguyễn Lương Sáng

trên trang giấy đêm dài

tôi đọc giọt cà phê màu bồ hóng

con sóng từ biển đen dạt vào miệng chén

 

gió hoang vu nơi sa mạc dậy thì

lần đầu rong ruổi

 

mắt cô gái sau vòm lá trong veo  

miên man giọng buồn

nghe mà không được thấy

 

bức tranh đính lên tường vôi

mái tóc cô xoay xoay chòm sao nước

chảy qua vai mềm đồng quê

thời hai tám năm tuổi

 

biển trẻ trung hơn ngày tôi cập bến

đôi cánh trái tim nóng hổi đợi chờ

ngôi sao mỏ neo thao thức 

 

là ẩn ngữ

của một bài thơ vừa mới tượng hình

                                                                      28/2/2019

Lời đề tặng của Ẩn ngữ cho ta biết bài thơ được gợi hứng từ tranh của Nguyễn Lương Sáng, một họa sĩ trẻ cùng quê với Hoàng Vũ Thuật. Bài thơ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ với những tìm tòi, sáng tạo cá nhân của họa sĩ. Từ ẩn ngữ - tranh, những thao thức suy tưởng đã hướng ông tới chân trời xa hơn -  ẩn ngữ của/ trong sáng tạo.

Hãy chú ý cách Hoàng Vũ Thuật dùng ngôn từ để “vẽ lại” tranh của Nguyễn Lương Sáng. Có ba đối tượng tạo hình nổi bật trong bức tranh thơ của ông, đó là giọt cà phê, cô gái, biển. Chúng vừa tồn tại biệt lập, riêng rẽ, đồng thời vẫn kết nối với nhau theo mối liên hệ bí ẩn nào đó, tạo nên một hình dung mang tính tổng thể về Biển đời.

Tâm điểm mô tả thứ nhất:

trên trang giấy đêm dài

tôi đọc giọt cà phê màu bồ hóng

con sóng từ biển đen dạt vào miệng chén

 

gió hoang vu nơi sa mạc dậy thì

lần đầu rong ruổi

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Quả vườn ổi - Hoàng Cầm

 

 GIẤC MƠ ĐỜI NGƯỜI

                      

                                  Lê Hồ Quang

                                             




QUẢ VƯỜN ỔI


Hoàng Cầm

Nằm trên bãi cát thư tâm

Sông nước sinh thuyền Em đẩy tới

Có gió có buồm có dòng có lái

Trách gì ai xô dạt đến bờ hoang


Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa
Đi...
           ngày tháng lụi tìm không thấy
Giải yếm lòng trai mải phất cờ

Cách nhau ba bước vào Vườn Ổi
Chị xoạc cành ngang
            Em gốc cây
- Xin chị một quả chín!
           - Quả chín quá tầm tay
- Xin chị một quả ương!
           - Quả ương chim khoét thủng

Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng
[1]

Hoàng Cầm cho biết ông viết Về Kinh Bắc trong khoảng từ lập thu 1959 đến giữa xuân 1960 [2], sau sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy vậy, phải đến năm 1994, nghĩa là hơn 30 năm sau, Về Kinh Bắc mới được xuất bản. Tập thơ là sự trở về với mạch nguồn văn hóa Kinh Bắc, cũng là sự trở về với tâm tình thiêng liêng của tác giả, dẫu cho, như chính ông nói trong những dòng Ước nguyện: Bốn tám dáng thơ đi tám nhịp/ Tuần du chưa vợi khối ân tình. Đó là kết quả của một cuộc tuần du nội tâm lạ thường.

Quả vườn ổi nằm trong Nhịp 5 - Còn Em, trong chùm bài tập trung về chủ đề tình yêu, đặc biệt mối tình Chị - Em nổi tiếng: Cây Tam cúc, Lá Diêu Bông, Cỏ Bồng Thi, Nước sông Thương… “Cốt truyện”, dù sơ giản (vì mục tiêu của nó là trữ tình, không phải thuật sự), vẫn đóng vai trò như xương sống của bài thơ trữ tình này (và khá nhiều bài khác trong Về Kinh Bắc).