Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2025

Thơ Linh Văn

                               NHỊP THỜI GIAN CỦA LINH VĂN

 (Về tập thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan [1] của Linh Văn, Nxb Đà Nẵng, 2025)

    riêng tôi, tập thơ này để tụng ca thời gian. thứ thời gian của riêng tôi, làm nên chính tôi bây giờ và mai sau - Linh Văn

                                                                              Lê Hồ Quang    



                  

Chọn thời gian làm đề tài, và hơn thế, biến nó thành chủ đề xuyên suốt tập thơ, hẳn Linh Văn biết mình đang đối mặt với một hiểm địa - sự lặp lại.

Phải, còn gì quen thuộc hơn hình ảnh mái tóc "tiêu như thanh ty, mộ thành tuyết" trong thơ Lý Bạch, con quạ trên cành khô trong thơ Basho, hay những con sóng thời gian xô nhau tìm cái chết trong thơ Shakespeare? Còn gì quen thuộc hơn cảm giác "Cái bay không đời cái trôi/ Từ tôi phút ấy sang tôi phút này" trong thơ Xuân Diệu? Và nữa, ý tưởng con người kiến tạo mình trong/ bằng thời gian của Walt Whitman: "Quá khứ và hiện tại đã héo tàn - tôi đã đổ đầy và rót cạn/ Và bây giờ tôi sắp đổ đầy cái phần tôi kế tiếp của tương lai" (Bài ca chính tôi, Hoàng Hưng dịch)… Thời gian, với quy luật chảy trôi của nó, với sức mạnh hủy hoại và tái sinh của nó, từ lâu, đã là một “chủ đề vĩnh cửu” của văn học, nghệ thuật, triết học.

Nhưng có vẻ tác giả thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan không nao núng. Bởi lẽ, điều anh ta thực sự quan tâm là thời gian nội tâm, tâm lí (Henri Bergson gọi là thời gian tồn tục) được kiến tạo bởi kinh nghiệm, thân thể, hồi ức, trực giác… Đấy là thời gian của ý thức, của trải nghiệm sống, đối lập với thời gian vật lí, luôn trôi chảy, không thể chia cắt, nơi quá khứ, hiện tại, tương lai cũng như thực tại và ước mơ, hoài niệm luôn thấm nhuần, hòa quyện. Dòng chảy chủ quan đó biểu thị đời sống tự ngã sâu thẳm, mang tính bản chất, bên trong cá nhân.

thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan, do vậy, không chỉ là một cách diễn đạt có tính ẩn dụ. Nó thể hiện cách tư duy, đồng thời, cách cấu trúc ý niệm thời gian bằng/ qua ngôn ngữ thơ của tác giả. Hình thành từ “một nguyện ước riêng tư và thành thật/ về một khoảng trời đã mất” (vọng âm), thời gian này gắn liền với kinh nghiệm bên trong, với dòng ý thức, với các trạng thái nội tâm sâu kín. Đó là thời gian đã được nội cảm hóa: tất cả chỉ là một nhát cắt dọc chiêm bao/ đổ thời gian xuống mặt phẳng không gian/ còn cách nào khác ngoài việc khẽ chạm từng hình bóng/ để cảm nhận sức nặng kí ức/ bám trên đầu mỗi ngón tay như bụi (từ một tấm ảnh gia đình)… Trong dòng thời gian này, con người hiện diện đồng thời cũng là con người “khiếm diện”, vừa là cái tôi tiểu sử, có những trải nghiệm cụ thể, đầy cảm xúc về tuổi thơ, tình yêu, mất mát, nhưng đồng thời cũng là cái tôi đã sống trải “những nơi tôi chưa từng đến”, “những năm / không có trên một cuốn lịch nào”, và cả “nỗi chết êm như nắng”. Sự “vọng âm” của những “lời tro” tạo nên tính chất phi danh tính của cái tôi, sắc màu mơ hồ hư ảo ngưng đọng trong những cảnh sắc không - thời gian được mô tả và âm thanh, ánh sáng, mùi vị của vĩnh viễn mà chúng mang theo.

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2025

Thơ Đặng Văn Hùng

                                                     ĐIỀU GÌ KHIẾN MẸ TIN

(Về tập Bài ca sau mưa của Đặng Văn Hùng, Nxb Đà Nẵng, 2025)

                                            Lê Hồ Quang



Ấn tượng trước hết của tôi về Bài ca sau mưa là sự nhỏ nhắn, khiêm nhường của nó. Tập thơ chỉ có 49 trang, không kể mục lục, với khổ in 10,5 x18 cm, có thể cầm gọn trong tay. Số lượng bài cũng ít và thường rất ngắn, có khi chỉ vài dòng. Nhưng chúng khơi mở những cảm giác đặc biệt nhẹ nhõm và dịu dàng.

Nếu đời sống học đường trong sáng tác của nhiều tác giả thường gắn với những mối tình học trò và những rung động đầu đời đầy lãng mạn, kiểu “Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn/ Tuổi hai mươi đến có ai ngờ/ Một hôm trận gió tình yêu lại/ Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Học sinh - Huy Cận) hoặc “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường/ Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương/ Tôi thay mực cho vừa màu áo tím” (Tuổi mười ba - Nguyên Sa), “Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ/ Chim non giấu mỏ/ Dưới cội hoa vàng” (Ngày xưa Hoàng Thị - Phạm Thiên Thư)… thì trong Bài ca sau mưa, Đặng Văn Hùng (cũng là một thầy giáo) thường quan tâm hơn đến công việc hàng ngày của một… ông giáo. Hãy thử đọc tên một số bài thơ, chẳng hạn Trước giờ dạy tối, Để chuẩn bị cho một bài giảng, Bài giảng về kể chuyện, Nghe chữ… Quả thực, ít khi công việc sự vụ chốn trường sở (vốn thường được mặc định là khô khan, tẻ nhạt, mệt mỏi), lại hiện lên trong thơ một cách ân cần và trìu mến như vậy.   

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

Thơ Phan Đan

 

THƠ PHAN ĐAN 

 khoảng trắng giữa trang Apocalypse

                                                                                        

 Lê Hồ Quang

 




Trong văn bản mở đầu tập Thơ Phan Đan [1] - tản mạn về thơ, Phan Đan viết:

Mỗi ca khúc là một giấc mơ hữu hạn được cắt gọt và đóng khung trong âm vực giọng người và trong những xúc cảm người. Những giấc mơ hữu hạn làm tán loạn đời sống liên tục của chúng ta và làm hoài thai những giấc mơ khác, có lẽ còn hữu hạn hơn.

Nhưng không có những tập hợp hữu hạn ấy, chúng ta biết làm gì trước THỜI GIAN, dòng chảy tuyệt mù tăm tích này?”

Với Phan Đan, âm nhạc, thơ ca hay nghệ thuật nói chung, có lẽ mang cùng một ý nghĩa: những giấc mơ vượt lên sự hữu hạn để tìm đến “những đường biên giới mênh mông của đời sống”; chúng có khả năng “làm lộ diện niềm hạnh phúc mà ta đã bỏ qua, đã quên lãng, đã mất mát hoặc không thể nào bắt gặp trong cõi hiện thực hữu hạn của đời người”. Ý thức về sự “cắt gọt và đóng khung”, về sự “hữu hạn” (thậm chí là “những tập hợp hữu hạn”) của những giấc mơ sáng tạo không làm lu mờ đi ý nghĩa và giá trị thực sự của chúng: đó là một cách để con người đối diện và tìm thấy tâm hồn mình trên “dòng chảy tuyệt mù tăm tích” của thời gian và cõi vô cùng. Nhưng việc nhấn mạnh tính bất toàn và những giới hạn tất yếu của nghệ thuật và thơ ca, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh xã hội công nghệ hiện đại, đồng thời dẫn ông đến với một nhận thức và tâm thế cần thiết: sáng tạo nghệ thuật là một hành động lựa chọn và chấp nhận. Thơ là hành động ưu tư về cuộc đời và chính nó. 

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2024

Truyện Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê

 

  CÂU HỎI VỀ CÁI ÁC

(Về Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê)

                                                                                                       Lê Hồ Quang




Bi kịch nhỏ (in trong tập truyện ngắn cùng tên vào năm 1993 [1]) thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và lối viết của Lê Minh Khuê giai đoạn hậu chiến và Đổi mới. Lần đầu đọc truyện ngắn này, tôi đã viết: Từ góc nhìn của người cháu, một nữ phóng viên, về người bác ruột của mình, vốn là một cán bộ cấp cao trong bộ máy chính quyền nay đã nghỉ hưu, tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề, chẳng hạn sự duy ý chí trong quản lí xã hội, sự trả thù cá nhân tàn độc nấp sau những chiêu bài chính trị, sự trớ trêu của đời sống hay là sự trả thù tàn khốc của số phận,... Trên thực tế, đấy không chỉ là bi kịch của cá nhân mà còn là bi kịch của xã hội và lịch sử. Con người đối mặt với số phận kì thực là đối mặt với tội ác và sự tàn độc của chính mình”[2]. Tuy nhiên, sau nhiều năm, tôi nhận ra Bi kịch nhỏ không chỉ nói về luật nhân quả hay nỗi cảm thương về sự trớ trêu của số phận, dù đây rõ ràng là những yếu tố tác động mạnh đến nhận thức và xúc cảm của độc giả. Hơn thế, Bi kịch nhỏ đã trình bày hiện thực đời sống ấy như một trạng thái hiện sinh có tính phổ quát, ở đó, cái ác, hoặc nói cách khác  sự dữ, bạo lực, nỗi đau khổ  chi phối tất thảy. Xuyên qua hiện thực khắc nghiệt được tái hiện, Bi kịch nhỏ đặt ra những câu hỏi khá trực diện về cái ác và qua đó, thúc đẩy những suy nghĩ “nhiều hơn và khác đi” về nan đề này.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

Phê bình - tiểu luận của Mai Văn Phấn (1)

 

NHỊP ĐIỆU CỦA SỨC BỀN

(Về tập phê bình, tiểu luận Nhịp điệu vẽ lối đi của Mai Văn Phấn,

Nxb Hội Nhà văn, 2024)

                                                                 Lê Hồ Quang



 Trong nhiều tác phẩm và bài viết trao đổi, Mai Văn Phấn thường nhắc đến quan niệm viết (và sáng tạo nghệ thuật nói chung) như một hành động kiến tạo không gian khác –  khác với người khác và khác với chính mình, xem đấy như kim chỉ nam cho quá trình tìm tòi của ông. Đấy là một ý tưởng dễ được chia sẻ (và dễ biến thành các tuyên ngôn to tát) nhưng rất khó để hiện thực hoá, bởi nó buộc người viết phải ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo, biết liên tục đổi mới, hoặc nói cách khác, biết phủ định và tự phủ định. Càng ngày, khi càng đi xa và đạt nhiều thành tựu hơn, Mai Văn Phấn càng thấy rõ áp lực của việc phải khác trong thực hành sáng tạo. Nhưng đồng thời, việc viết trong áp lực (chủ yếu xuất phát từ đòi hỏi của ông với chính bản thân) đã hình thành ở tác giả này một tinh thần và thái độ thực tế mà ta có thể nói đơn giản như sau: muốn viết khác thì phải đọc sâu, đọc rộng. Có lẽ vì vậy, sau nhiều tác phẩm thơ liên tiếp xuất bản trong và ngoài nước, Mai Văn Phấn chọn nhịp bước chậm lại và rẽ sang phê bình với tập Không gian khác (2016) và mới đây nhất, là Nhịp điệu vẽ lối đi (2024).

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

 

VẤN ĐỀ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

                                                                                               



Lê Hồ Quang

1. Thể loại là khái niệm chỉ quy luật loại hình của văn bản (VB), trong đó, mỗi loại nội dung tương ứng với một loại hình thức, tạo nên cấu trúc chỉnh thể của nó. Hình thức thể loại là kết quả của một phương thức chiếm lĩnh đời sống và mối quan hệ giao tiếp, nhận thức mang tính đặc thù giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mĩ. Đến lượt mình, mỗi thể loại văn học lại tạo nên những kênh giao tiếp và nguyên tắc, phương tiện, truyền thống giao tiếp riêng với độc giả – chủ thể tiếp nhận. Thể loại thể hiện các quy luật phản ánh đời sống và tổ chức tác phẩm một cách tương đối bền vững, ổn định, đồng thời, với tư cách một hiện tượng lịch sử, nó cũng vận động và đổi mới. Trong công trình Lí luận văn học, R. Wellek và A. Warren nhấn mạnh: “Các thể loại có được xây dựng một lần và mãi mãi hay không? Rõ ràng là không bởi vì những tác phẩm mới mở rộng những ranh giới thể loại”[1]. M. Bakhtin cũng khẳng định: “Xét về thực chất, thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học. Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những yếu tố cổ sơ bất tử. Thực ra, cái cổ sơ này được bảo lưu ở thể loại chỉ nhờ vào sự đổi mới thường xuyên, có thể nói là nhờ được hiện đại hoá. Thể loại bao giờ cũng vừa là nó, vừa không phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kĩ vừa mới mẻ. Thể loại được tái sinh, được đổi mới qua từng giai đoạn phát triển văn học và qua từng tác phẩm cá biệt của thể loại này”[2]. Tiếp cận VB từ góc độ thể loại, vì vậy, không chỉ giúp lí giải VB một cách khoa học, có căn cứ mà còn giúp giải quyết nhiều vấn đề của lí thuyết và thực tiễn.

2. Trong nhà trường Việt Nam, nguyên tắc dạy học đọc hiểu VB theo đặc trưng thể loại đã được chính thức đề xuất từ Chương trình Ngữ văn (CTNV) 2006[3]. Dù có định hướng rất đúng song việc dạy học đọc hiểu VB ở nhà trường phổ thông theo nguyên tắc này vẫn chưa có đủ điều kiện thực hiện một cách triệt để, bởi hệ thống VB trong chương trình và SGK vẫn được sắp xếp theo tiến trình lịch sử. Đành rằng những VB cùng thể loại thuộc một thời kì văn học nào đó đã được chú ý đặt thành cụm, nhưng điều đó thực sự không có nhiều ý nghĩa, không tạo được dấu ấn về một kiểu tư duy khác đối với việc tổ chức hoạt động đọc hiểu VB cho HS. Đến CTNV 2018, nguyên tắc dạy học đọc hiểu VB theo đặc trưng thể loại vẫn tiếp tục được nhắc đến và lần này chắc sẽ được thực hiện một cách hiệu quả hơn, khi chương trình nêu định hướng phải tích hợp chặt chẽ việc hình thành kiến thức về thể loại, bao gồm văn bản văn học (VBVH), văn bản nghị luận (VBNL), văn bản thông tin (VBTT), với việc triển khai các hoạt động đọc viết, nói và nghe. Trong phần kiểm tra, đánh giá kĩ năng đọc hiểu, CTNV 2018 cũng yêu cầu HS phải biết đánh giá VB về phương thức thể hiện, đặc biệt, qua đọc hiểu, phải xác định được rõ “kiểu VB, thể loại và ngôn ngữ sử dụng”[4].