Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

Thơ Trần Hạ Vi

                THƠ NHƯ SỰ TỰ KIẾN TẠO

                      (Về thơ Trần Hạ Vi)

                   

                                            


                                                

                                                                                                        Lê Hồ Quang

           Tôi biết gì về Trần Hạ Vi với tư cách một tác giả - tiểu sử?

Đây là thông tin căn bản mà tôi có:

Trần Hạ Vi tên thật Nguyễn Yến Ngọc. Sinh ra và lớn lên tại An Giang. Học Đại học, Cao học và Tiến sĩ (PhD) ngành Tài chính ngân hàng ở Đại học Monash, Úc. Hiện đang định cư tại Canada. Phó Giáo sư ngành Tài chính tại trường đại học StFX, Nova Scotia

Tác phẩm đã xuất bản: Lật tung miền kí ức (thơ), Nxb Hội nhà văn, 2017; Vi (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2020; Phiến Hạ (thơ), Nxb Hội Nhà văn, 2024 [1].

Trên Facebook (FB) cá nhân, tác giả thi thoảng cập nhật, chia sẻ một số thông tin, hình ảnh về bản thân và gia đình. Chúng cho tôi hình dung về con người tác giả ngoài đời: một nữ trí thức thành đạt, có cuộc sống gia đình đủ đầy, viên mãn với người chồng hiểu và yêu vợ và một cô con gái nhỏ xinh xắn… Những bài viết trên FB và một số Website văn học nghệ thuật trong thời gian gần đây bộc lộ thêm khía cạnh khác của con người Trần Yến Ngọc: sự mở rộng của mối quan tâm từ khoa học, thi ca sang các vấn đề của đời sống văn hóa, xã hội, chính trị; tinh thần công dân và thái độ phản biện mạnh mẽ; tính cách bộc trực, thẳng thắn… Kiểu tư duy khoa học chi phối khá rõ cách chị tiếp cận, triển khai và thảo luận vấn đề, thể hiện ngay cả trên các status hay comment ngắn.

Tuy nhiên, trên FB của mình [2], bút danh tác giả sử dụng chính thức là Trần Hạ Vi chứ không phải Nguyễn Yến Ngọc. Tên tập thứ hai của tác giả là Vi. Tên tập thứ ba nhắc đến yếu tố Hạ (Phiến Hạ). Và dự kiến tập thứ tư (?) Trần. Chỉ nhìn tên của các tập thơ, ta cũng có thể nhận thấy xu hướng đào sâu vào trữ tình cá nhân, những xúc cảm và trải nghiệm riêng tư, với lối diễn ngôn nhằm tạo nên ấn tượng về một cái tôi giàu nữ tính và cá tính. Như vậy là, dù có mối liên hệ chặt chẽ với con người tiểu sử ngoài đời – tác giả Trần Yến Ngọc, chân dung của Trần Hạ Vi trong thơ vẫn là một cái tôi khác – cái tôi thi ca, được định hình thông qua hành động và quá trình sáng tạo. 

Ý thức tự kiến tạo [3] trong thơ Trần Hạ Vi được tôi hiểu như sau:

- Thơ là một cách để tác giả “kiến tạo và tái kiến tạo” bản ngã – tức cấu trúc nội tâm của chủ thể – đồng thời định hình căn tính tinh thần của mình trong diễn ngôn thẩm mĩ.

-  Bản ngã tinh thần của tác giả được sáng tạo qua thơ/ bằng thơ và vận động, biến đổi theo tiến trình sáng tác chứ không cố định, bất biến.  

- Ý thức xây dựng một cái tôi sáng tạo khác với cái tôi tiểu sử đòi hỏi độc giả đọc thơ trong sự tôn trọng tính độc lập của văn bản và chân dung tinh thần chủ thể được cấu thành trong đó.  

Đề tài chủ âm trong thơ Trần Hạ Vi là tình yêu lứa đôi. Nhân vật trữ tình là nữ, thường sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, là em. Khác với  từ  我 (Wǒ/ tôi) trong tiếng Trung hoặc I trong tiếng Anh, từ “em” tự nó đã bộc lộ sắc thái thứ yếu, phối thuộc. Hạ Vi là một bút danh có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa phổ biến nhất, “nên thơ” nhất là đóa tường vi mùa hạ. Nó cũng có hàm ý chỉ tính chất nhỏ bé, tinh tế của đối tượng. Em, trong các sáng tác này, thường bộc lộ mình trong tâm/ tư thế trữ tình quen thuộc: giàu tâm sự và xúc cảm, luôn vị tha và hy sinh, không ngại bộc lộ trang thái "lụy tình" yếu đuối và đắm say… Trong tập Phiến Hạ, ảnh tác giả in trên trang bìa với mái tóc dài, mặc áo dài trắng, ôm tập thơ Vi. Tập thơ sử dụng kiểu chữ mềm mại với nền giấy in chìm hình hoa phượng. Có thể nói, từ hình ảnh đến ngôn ngữ, và hình thức trình bày, tất cả đều thống nhất với mô hình diễn ngôn điển hình của thơ nữ và nữ tính.  

Tuy nhiên, khi quan sát sâu hơn, sẽ thấy thơ Hạ Vi không dừng lại ở kiểu "phục trang cho bản ngã" quen thuộc đó. Quan niệm tình yêu, trong thơ tác giả này, thể hiện khá rõ sự đối lập, thậm chí thách thức với những quan niệm mang tính chuẩn tắc, kinh điển truyền thống về gia đình, tình yêu, người tình… Một mặt, tác giả có một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc, chị không ngại chia sẻ những khoảnh khắc riêng tư và sự ủng hộ của người chồng với những sáng tác tình yêu của chị. Mặt khác, trong thơ, chị thoải mái viết về những cảm xúc thân mật, say đắm của mình với “anh T”, “anh C”. “anh D”, và cả anh T* (mà không phải là T)… (Yêu đến chữ Z). Trong thái độ nhẹ nhõm, pha sắc thái hài hước này, có thể thấy sự hiện diện của tinh thần nữ quyền luận: quyền được có thể cùng lúc yêu chồng và yêu cả những người đàn ông không phải là chồng (đây rõ ràng là một tình huống chống lại tinh thần nam quyền luận điển hình); quyền được nói ra xúc cảm một cách thành thật, thẳng thắn, hồn nhiên, không kiêng dè, ở những tình huống vốn bị xem là khác thường trong xã hội nam quyền thống trị; quyền được quan sát và trửng giỡn với những cảm xúc của mình mà không bóp méo nó vì những định kiến giới; và trên tất cả, là quyền được hạnh phúc theo cách mình nghĩ, mình muốn. Tất nhiên, cần hiểu đây là một diễn ngôn thơ ca chứ không phải là một diễn ngôn đạo đức. Tác giả ý thức rất rõ ràng về hệ giá trị và sự khác biệt giữa thế giới thực, tồn tại trong đời sống và thế giới ảo, được sáng tạo trong thơ. Tình yêu, như vậy không chỉ là một trạng thái cảm xúc. Tình yêu là một tư tưởng, một thái độ sống tự do, mạnh mẽ:

Tôi yêu như là tôi sống

Tôi yêu như là tôi nói

 

Tôi là một trái tim tự do

Một trái tim tự do

Tôi là

             (Tôi là một trái tim tự do)