Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Làm thế nào để đọc một bài thơ... - Lê Vĩnh Tài

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỌC MỘT BÀI THƠ

CỦA /THEO KIỂU LÊ VĨNH TÀI…

                                                               

                                                                Lê Hồ Quang

 Cách đọc một bài thơ - đó có phải là điều đang làm bạn bối rối? Nếu vậy, bạn sẽ không đơn độc khi đọc bài (thơ) này. Bởi Làm thế nào để đọc một bài thơ… đích thực là bài hướng dẫn sự/ cách đọc thơ. Một sự chỉ dẫn cặn kẽ, lớp lang và đầy thấu hiểu, cảm thông với nỗi bối rối/ rối bời của bạn!

PHẦN 1. CHỈ DẪN LÍ THUYẾT VỀ CÁCH ĐỌC THƠ

Tác giả đã chia nội dung bài (thơ) này thành hai phần. Ta tạm gọi phần 1 là phần hướng dẫn lí thuyết, với tiêu đề dưới dạng một câu hỏi tu từ giàu sức gợi dẫn (hoặc cũng có thể hiểu như một lời cảm thán, do kết thúc không phải dấu hỏi mà là dấu ba chấm) - Làm thế nào để đọc một bài thơ… Phần 2 là phần dành để thực hành - Một ví dụ để bạn thực hành. Thật trực quan, sinh động!

Sau đây là một số chỉ dẫn quan trọng về cách đọc thơ do tác giả đề xuất.

Chỉ dẫn thứ nhất - soạn lại tâm thế đọc

đầu tiên, hãy quên đi mọi thứ bạn đã học

rằng thơ là khó hiểu

rằng nó không dành cho những người như bạn

Cái biết của lý trí đôi khi làm hại bạn, nó làm bạn trở nên cứng nhắc, giáo điều. Bạn chỉ tin vào những mô hình đã được công nhận, những con đường đã được vạch sẵn. Bạn đánh mất khả năng hồn nhiên. Khi đứng trước một bông hoa, tư duy nệ phân tích khiến bạn chỉ nhìn thấy hỗn hợp thân - cánh - nhụy - hương, bạn không biết bông hoa đích thực như - nó - là, đã mất (Vườn thức một mùi hoa đi vắng - Lê Đạt). Đấy là một cảnh báo nghiêm túc khi bạn chỉ chực cầm cây kéo giáo điều để cắt/ đọc một bài thơ: hãy quên đi mọi thứ bạn đã học… Không phải quên đi kiến thức mà quên đi định kiến. Những định kiến phổ biến, chẳng hạn “thơ khó hiểu” (thực ra, thơ nào chẳng khó hiểu với người đọc mang sẵn tâm thế không dành cho thơ?), định kiến phân loại/ phân biệt thơ (cao nhã/ dung tục; trí thức/ bình dân; lãng mạn/ hiện đại/ hậu hiện đại…), chẳng hạn định kiến giới hạn đọc (loại thơ này không dành cho tôi, hoặc, nói cách khác, cao ngạo hơn, tôi không đọc dạng - gọi - là - thơ này)…

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Đọc thơ Nguyễn Bình Phương

 

ĐỌC THƠ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

                                                                                          Lê Hồ Quang

Đọc thơ Nguyễn Bình Phương không dễ. Có thể nói, thơ ông có một thứ “ngôn ngữ” khác thường: thứ ngôn ngữ của mộng mị, của những ảo giác chập chờn, phi thực, hư ảo... Ngôn ngữ ấy đòi hỏi ta phải bớt đi cái tỉnh táo ráo riết của lí trí, gia tăng sự phiêu lưu của trí tưởng tượng, sự buông bắt xa lạ và ngẫu hứng của trực giác. Nó buộc ta phải “buông thả” thật hoàn toàn trong tầng tầng liên tưởng và sự mơ hồ bất định. Bởi vậy, việc “đọc” thơ Nguyễn Bình Phương là một hành trình tìm đường vào cõi lạ đầy nhọc nhằn, với nhiều cảm giác bất an, nghi hoặc. 

Hãy bắt đầu từ những ấn tượng và cảm nhận chung nhất về thơ Nguyễn Bình Phương. Đó là một thi giới đầy những sự vật, hình ảnh lạ lùng, thậm chí kì dị. Nó xuất phát từ nhu cầu cảm nhận và lí giải khác về hiện thực:

Qua con mắt khép hờ

Mặt trăng đi thẳng vào giấc ngủ

Cuối đường gặp một ban mai bàng bạc

 

... Người đeo kính hết mọi nhớ mong

Những quên lãng lại hồi về trí nhớ

Con mắt khép nửa vời là cạm bẫy thờ ơ

 

Trong giấc ngủ đầy mộng mị

Trăng không thể bay ra...

                                           (Mắt)

Trong khoảnh khắc, "con mắt khép hờ” (hay “con mắt khép nửa vời”) ấy đã  phá hủy và kiến tạo, kết hợp và xếp đặt lại tất cả hình ảnh hiện thực, biến chúng thành một “thực tại mộng mị”, bị/ được chế ngự bởi một sức mạnh nội tâm mãnh liệt và dị thường. Giữa chủ - thể - của - cái - nhìn và thế giới - được - nhìn - thấy ấy không tồn tại tách biệt, đối lập mà tồn tại trong sự giao hòa và chuyển hóa. Ở đây, nội tâm và ngoại giới được kết nối trong một trạng thái đặc biệt, rất khó để nhận ra những dấu vết của đời thực, nói đúng hơn, những dấu vết cụ thể của đời thực trở nên mờ nhòe, mung lung, chỉ còn lại những đường nét tượng trưng mơ hồ.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Thỏa thuận - Trương Đăng Dung

 


 THỎA THUẬN THƠ

                                                                                                   Lê Hồ Quang                                                                                                  

Dưới “áp lực” của tiêu đề, khi đọc Thỏa thuận, gần như ngay lập tức, trong óc tôi nảy sinh hàng loạt câu hỏi: Thỏa thuận nói về cái gì? Là sự “thỏa thuận” trong cấu trúc ngôn ngữ, giữa hai mặt kí hiệu và hình ảnh âm thanh cấu thành, vốn có mối quan hệ võ đoán? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động giao tiếp xã hội, giữa người nói và người nghe mà ngôn ngữ là phương tiện kết nối? Là sự “thỏa thuận” trong hoạt động tiếp nhận văn học, được xác lập trên mối quan hệ giữa độc giả và văn bản, một mối quan hệ cũng đầy tính bất định? Hay Thỏa thuận còn là gì đó khác?

Thoạt tiên, tôi thử áp dụng cách đọc lược, bao quát nhanh nội dung chính của văn bản, đồng thời kết nối một số yếu tố trong văn bản với những yếu tố bên ngoài, có mối liên hệ gần, chẳng hạn thông tin về con người tác giả; hoặc, những lí thuyết triết học, mĩ học… bàn về vấn đề liên quan. Thao tác đó cho phép tôi “lược quy” một số nét chính trong nội dung bài thơ như sau:

- Bài thơ bàn đến một tính chất đặc thù của hoạt động ngôn ngữ - tính "thỏa thuận" (hoặc diễn đạt theo cách khác - tính quy ước), trong giao tiếp đời sống và nghệ thuật. Đó là mối quan hệ vừa có tính xác định vừa đầy bất định.

- Bài thơ mô tả hoạt động ngôn ngữ thông qua một số biểu hiện cụ thể: nói, nghe, hiểu… khá sinh động. Ngôn ngữ là hình tượng trung tâm của bài thơ.

- Bài thơ giàu tính khái quát, triết lí. Nó gợi mở suy ngẫm về các mối quan hệ giao tiếp trong nghệ thuật và đời sống.  

Có một số “điểm tựa” dẫn tôi đến sự suy luận về nghĩa/nội dung văn bản nói trên. Cụ thể như sau:

a) Tên bài thơ là Thỏa thuận. Toàn bộ câu chữ, hình ảnh trong văn bản tập trung vào việc làm sáng tỏ luận đề "tính thoả thuận" trong giao tiếp ngôn ngữ.

b) Mối liên hệ giữa nội dung Thỏa thuận với một số tri thức, lí thuyết triết học, ngôn ngữ, văn hóa, nghiên cứu văn học hiện đại. Chẳng hạn, lí thuyết ngôn ngữ học cấu trúc của F. de Sausure với quan niệm về bản chất võ đoán của dấu hiệu ngôn ngữ[1]; lí thuyết Kí hiệu học với quan niệm về giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống và nghệ thuật “như là sự giao nhau đầy căng thẳng giữa những hành vi ngôn ngữ tương thích và không tương thích” (IU.M. Lotman)[2]Mĩ học tiếp nhận với quan niệm khẳng định bản chất giao tiếp của nghệ thuật và tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động tiếp nhận của độc giả [3]Ngoài ra, về vấn đề này, còn có thể nhắc đến lí thuyết giải cấu trúc, lí thuyết diễn ngôn, lí thuyết hậu hiện đại

c) Mối liên hệ giữa Thỏa thuận với kiểu tư duy, cảm quan thẩm mĩ của nhà thơ (đồng thời cũng là nhà nghiên cứu văn học) Trương Đăng Dung và với những sáng tác khác của ông.

Nhưng có thực nghĩa/ ý nghĩa của bài thơ chỉ nằm ở đó? 

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

Dạy học thơ Huy Cận

 

MỘT NÉT ĐẸP CẦN KHAI THÁC 

KHI DẠY HỌC THƠ HUY CẬN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

                                                             

  Lê Hồ Quang

1. Nói về thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm” [7;128]. Nhận xét ấy thực chính xác, nó chỉ rõ điểm cốt yếu của tiếng thơ Huy Cận - ấy là tiếng thơ của một con người “trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”[1]. Ta cũng có thể diễn đạt sự “trẻ lắm” ấy theo cách khác, đó là tươi mới trong xúc cảm và hiện đại trong thi pháp. Sự xác lập vị trí nhanh chóng và vững bền của Huy Cận trong phong trào Thơ mới chắc chắn xuất phát từ chính sự trẻ trung, hiện đại này.

Nhưng theo quan sát cá nhân tôi, ở trường phổ thông, khi nói đến thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là trong tập Lửa thiêng, người ta thường quan tâm chú ý và đề cao phần “già” (nỗi sầu nhân thế - vũ trụ, vẻ đẹp cổ điển, tính chất tượng trưng, phổ quát…) hơn là phần “trẻ” (sự mới mẻ, hiện đại, thanh tân)[2]. Điều này càng được nhấn mạnh khi trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, Huy Cận được dạy học cùng (và thường được đặt trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu) với Xuân Diệu, người bạn thơ thân thiết của ông, cũng là một tác gia hàng đầu thời Thơ mới. Đành rằng, việc định danh thơ Huy Cận thời Lửa thiêng bằng các định ngữ như “hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý”, “cái tôi cô đơn trước thiên nhiên”, “vẻ đẹp cổ điển”, “họa điệu giữa hồn người và tạo vật”, “lòng yêu nước thầm kín thiết tha”, “sầu nhân thế” [3] là hoàn toàn đúng (và những đặc điểm này thể hiện rất rõ qua Tràng giang, bài thơ được chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành). Nhưng thơ Huy Cận thời kỳ này không chỉ có vậy. Nhiều bài trong Lửa thiêng rất tươi mới và giàu xúc cảm cá thể, chỉ có điều chưa đến được với rộng rãi bạn đọc. Điều này khiến nhiều độc giả trẻ trong nhà trường thường có ấn tượng không đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện về thơ Huy Cận. Do đó, họ chủ yếu đọc/ nghĩ về ông như một tác giả thơ tuy giàu triết lý, có vẻ đẹp cổ điển và tao nhã nhưng khá xa cách với tuổi trẻ.

Vì những lẽ trên, tôi nghĩ cần phải nói về nét đẹp thanh xuân, tươi mới trong Lửa thiêng của Huy Cận, để bổ sung và khẳng định về những phẩm tính thẩm mĩ trong thơ tác giả này. Và cũng để nhấn mạnh một điều: Huy Cận không chỉ là một nhà Thơ mới giàu tính cổ điển, ông cũng thực sự là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu. 

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2021

Thơ Thanh Thảo

 

TIẾNG THÉT GỌI CỦA CON NGƯỜI ĐÃ VƯỢT LÊN NỖI SỢ

(Đọc trường ca Đêm trên cát, trong tập Trường ca

của Thanh Thảo, Nxb Hội Nhà văn, 2009)

 

                                Lê Hồ Quang

Đêm trên cát nằm trong vệt tác phẩm viết về nghệ sĩ - trí thức, một kiểu hình tượng nổi bật trong thơ Thanh Thảo thời hậu chiến. Viết về Cao Bá Quát, một nhà nho, một nhà thơ, vị quân sư của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, một con người có tài năng và số phận khác thường trong lịch sử dân tộc, trường ca này là cuộc giải phẫu nội tâm cá nhân bi tráng gắn liền cảm hứng nhận thức, lý giải về trách nhiệm trí thức trước các vấn đề của thời cuộc, của đời sống lịch sử - xã hội.

Bao trùm Đêm trên cát là một trạng thái nội tâm đớn đau, bi phẫn. Trạng thái ấy gắn liền ý thức sâu sắc về đời sống cá nhân, xã hội, trách nhiệm của kẻ sĩ và cũng chính nó đã thổi bùng lên ngọn lửa phản kháng mạnh mẽ, dữ dội. “Ta” (được hiểu theo nghĩa đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất), là cách xưng danh của nhân vật trữ tình. Nó vừa gợi cảm giác xưa cũ (thường gặp trong thơ xưa); đồng thời nhanh chóng xác lập tâm thế tâm sự/ tự sự/ giãi bày... của nhân vật: Ta đứng đây/ nương tựa vào chính mình vào mặt đất... Nhưng việc đào sâu vào thế giới nội tâm cũng là dấn sâu thêm vào cảm giác tổn thương nghẹn ngào chua xót:

tóc xõa đầu ngọn gió

rối bời bao tâm sự

ta già rồi chăng

trước mặt bức tường cao thêm mãi

gánh nặng lưng còng trèo non lội suối

xòe bàn tay còn lại đất bùn

mong tài năng nở rộ dưới vầng dương

buồn cười thay

nghe trong miệng vị sương mù nhạt thếch

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Tiểu thuyết Vũ Thành Sơn

 

VIẾT NHƯ MỘT CÁCH CHỮA THƯƠNG

(Về Căn nhà giữa những đám mây, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2020,

tiểu thuyết của Vũ Thành Sơn)

        
                                                 

Lê Hồ Quang

Căn nhà giữa những đám mây mở đầu bằng việc nhân vật tôi về thăm mẹ ốm nặng. Việc gặp lại người thân và khung cảnh quen thuộc đã khơi dậy trong anh ta vô số hồi ức, kỉ niệm và mối liên hệ về gia đình, bè bạn, tuổi thơ ấu... Nhưng đó chỉ là khởi điểm. Tựa hương vị chiếc bánh madeleine nổi tiếng, chuyến trở về đồng thời đánh thức nỗi ưu tư về thời gian, cái chết, nỗi bất hạnh; sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ người; sự phi lí, ngẫu nhiên và bất khả tri của thực tại mà nhân vật đang nếm trải. Với 15 chương, Căn nhà giữa những đám mây (có tên ban đầu gợi hơn là Nhà tôi ở cuối chân trời) là hành trình người kể chuyện không ngừng lục lọi những mảnh vụn kỉ niệm trong kí ức rối rắm, nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi muôn thuở: tôi là ai? Ừ, rốt cục thì tôi là ai chứ? Đâu là cái có thể giúp định danh/ xác định về tôi? Là tôi trong quá khứ hay tôi trong hiện tại, hoặc nữa, trong một chiều kích không - thời gian nào đó khác, mới đích thực là chính tôi? Hồi ức và tưởng tượng, mộng và thực, quá khứ và hiện tại, tôi và phi - tôi, tất cả đan cài, xoắn bện vào nhau tạo thành một thế giới trùng phức. Một thế giới ám ảnh bất lực, đổ vỡ, bất an. Ở đó, con người bị đẩy vào dòng xoáy thời gian, bị sinh ra, bị lớn lên và cứ thế, bị cuốn đi mãi, tới đích cuối đợi sẵn -  cái chết và hư vô.